Du lịch Lâm Đồng tăng tốc? – Phần 2

Một vài năm trở lại đây, đặc biệt khi Đà Lạt được công nhận đô thị loại II, cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông không ngừng nâng cấp, mở rộng, đã tác động tích cực cho Du lịch mở hướng đi lên. Mặt khác, qua những hình thức ngày hội văn hóa các dân tộc Tây Nguyên, các hội nghị – hội thảo, nghiên cứu khoa học tổ chức, đăng cai tại Lâm Đồng – Đà Lạt, không riêng tạo ra doanh thu mà đã kích thích mạnh mẽ kinh tế Du lịch nâng bước đi lên… Thế nhưng có còn hay không tình trạng “chặt chém” giá cả du khách ở những mùa du lịch cao điểm? Trách nhiệm này, ngành Thuế, Quản lý thị trường đã vào cuộc hay chưa? Tình trạng chèo kéo, giành giật khách ở khu vực kinh tế du lịch tư nhân, ngành Công an bao giờ mới giải tỏa dứt điểm? Hoặc việc cấp phép kinh doanh khách trọ, ngành Thương mại Kế hoạch – Đầu tư có cân nhắc trước với cơ quan quản lý Du lịch Nhà nước về con người và tài sản đưa vào làm kinh doanh liệu có đủ tiêu chuẩn du lịch? Đó là chưa kể đến những hoạt động mang bản sắc văn hóa Tây Nguyên chưa được đầu tư khơi dậy đúng mức, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu ngày càng phong phú, đi vào chiều sâu của khách…
Riêng ngành Du lịch Lâm Đồng – Đà Lạt, hơn lúc nào hết phải tăng tốc độ đầu tư và mở rộng sản phẩm du lịch phong phú, hấp dẫn hơn, theo hướng du lịch sinh thái. Nhưng nếu chỉ đòi hỏi như thế cũng mới chỉ là một vế của vấn đề. Bài học tiếp tục thua lỗ ở liên doanh RDI nhiều năm qua là một minh chứng điển hình nhất. Ở đây việc chơi golf đối với khách nội địa thường hy hữu, bởi giới tỷ phú trong nước chưa nhiều. Doanh thu chỉ có thể trông chờ ở khách ngoại quốc, nhưng nói riêng các nước trong khu vực muốn sang Đà Lạt chơi golf phải “quá cảnh” mất cả ngày đường từ các sân bay quốc tế trong nước. Nếu sân bay Liên Khương mở tuyến đường bay quốc tế thì chỉ cần 2 giờ đồng hồ, du khách các nước trong khu vực sẽ đến được dịch vụ golf, nhưng tiếc thay, mơ ước đã nhiều năm, đến nay chưa trở thành hiện thực.
Năm 2001, theo đệ trình của Tổng cục Du lịch, Chính phủ đã có ý kiến chính thức đồng ý phát triển 4 khu du lịch trong nước, đó có khu du lịch ĐangKia – Suối Vàng. Tổng cục Du lịch chịu trách nhiệm cùng với Bộ kế hoạch – Đầu tư, Bộ tài chính và Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng xem xét, làm việc với Singapore để thúc đẩy đầu tư xây dựng dự án. Chắc chắn ĐangKia – Suối vàng sẽ thoát hẳn khỏi bế tắc do hậu quả của khủng hoảng tài chính trong khu vực để lại. Cơ hội tăng tốc Du lịch Lâm Đồng – Đà Lạt đã chớm bước trở lại. Để chuẩn bị mọi điều kiện thật tốt đón nhận cơ hội này, thiết nghĩ Du lịch Lâm Đồng – Đà Lạt cần tập trung xây dựng, nâng cao ý thức toàn xã hội một cách đầy đủ hơn về Du lịch và phát triển thế mạnh du lịch sinh thái đồng thời với việc đầu tư, đổi mới sản phẩm du lịch đặc thù. Chỉ có tiến hành đồng bộ như thế mới đưa ngành kinh tế động lực này “cất cánh” lên tầm cao mới.
Văn Việt – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT- DL – Hà Nội – Năm 14(179)2000

Du lịch Lâm Đồng tăng tốc? – Phần 1

Nói đến Lâm Đồng – Đà Lạt, từ lâu người trong nước và quốc tế vẫn thường liên tưởng đến một vùng đất “hái ra tiền”. Bởi ở đó có thiên nhiên, khí hậu ôn hòa, con người thanh lịch và mến khách. Cũng bởi thế mạnh vốn có nên Lâm Đồng xem kinh tế Du lịch là ngành kinh tế động lực, riêng thành phố Đà Lạt luôn đặt lên vị trí là kinh tế mũi nhọn. Dù vậy hơn một thập kỷ qua, Lâm Đồng – Đà Lạt luôn đối mặt triền miên trước những thách thức do cơ chế cũ để lại: Rừng bị phá, môi trường bị xâm hại nghiêm trọng, khiến cho mô hình du lịch sinh thái phải chịu sự gián đoạn, manh mún. Trong khi đó, sự phát triển mất cân đối ngay trong bản thân ngành Du lịch, dẫn đến nhiều than phiền từ phía du khách. Nếu như những năm 94, 95, 96 lượng khách du lịch đến Lâm Đồng – Đà Lạt tăng nhanh thì vài năm kế tiếp, lại giảm xuống gần như đột biến. Ý kiến của nhiều du khách là đến Lâm Đồng – Đà Lạt chỉ để “đổi gió” rồi ăn ngủ, còn sinh hoạt, giải trí thì nhàm chán và đơn điệu, đã làm nhức nhối những nhà du lịch tâm huyết của địa phương. Rất mừng “Điểm hẹn du lịch năm 2000” đã khởi đầu cho những ấn tượng mới, tốt đẹp hơn trong lòng du khách về một thiên đường du lịch đầy triển vọng trong tương lai.
Ngành du lịch của tỉnh đã xúc tiến mạnh mẽ việc quảng bá về tiềm năng, cũng như những nét độc đáo về du lịch của địa phương với nhiều hình thức đa dạng. Những hội chợ lớn giới thiệu về Du lịch Lâm Đồng từ Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đến các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam Bộ, hoặc một liên hoan văn hóa ẩm thực tại Đà Lạt đã thu hút sự chú ý đặc biệt của “quan khách” nội địa và quốc tế, đem lại bước thành công trong hoạt động mới mẻ này. Du khách được nghe, hình dung đầy đủ về một diện mạo mới của Du lịch Lâm Đồng – Đà Lạt. Chẳng những thế, bước chân lên Lâm Đồng, du lịch khách đã dần dần xóa đi mọi buồn chán cố hữu khi dạo chơi, thưởng ngoạn trên 20 thắng cảnh đưa vào hoạt động. Du khách muốn leo núi có đỉnh LangBian với đầy đủ những dịch vụ đáp ứng nhu cầu. Muốn du lịch dã ngoại có khu Tuyền Lâm (Đà Lạt), thác ĐamBri (Bảo Lộc). Còn nữa, những tuyến du lịch mới như thác Voi (Lâm Hà), thác BobLa (Di Linh) có đường ô tô đi đến nơi, đang trở thành những điểm hẹn với nhiều khám phá thú vị. Hầu hết những cánh rừng nơi thắng cảnh đều xanh trở lại. Nơi nào cũng đều có các hình thức phục vụ đa dạng, thuận lợi, nhờ vậy đã thu hút hơn 3,3 triệu lượt khách tham quan vào năm 2000. Đáng kể nhất, Công ty DVDLVC Lâm Đồng đã tạo hấp dẫn khách du lịch khi vừa “trình làng” với 60 xe taxi, xe vận chuyển khách đường dài chất lượng cao; 68 thuyền gỗ, xuồng máy cải tiến, hoạt động mới. Con số 45 ngàn khách lữ hành, nội địa sử dụng dịch vụ là những tín hiệu tốt lành cho hoạt động “bổ trợ” này… Đến nay, Lâm Đồng có tất cả 385 khách sạn, trong đó 19 khách sạn được phong sao. Khách sạn 5 sao Palace được đánh giá là khách sạn đẹp nhất Đông Nam Á.
Từ những nỗ lực của “Điểm hẹn năm 2000”, Du lịch Lâm Đồng – Đà Lạt đã tiếp đón 725 ngàn lượt khách, tăng 100 ngàn lượt khách so với năm 1999, trong đó khách quốc tế là 71 ngàn, khách nội địa là 654 ngàn; tổng doanh thu đạt gần 200 tỷ, vượt chỉ tiêu được giao. Nhìn lại những kết quả khả quan này, mừng nhiều, nhưng sẽ còn quá sớm để vội thỏa mãn chính mình; khi mà áp lực “tăng tốc” ở thiên niên kỷ mới đã không cho phép Du lịch Lâm Đồng – Đà Lạt laonh quanh khai thác “cái đang có” để rồi rơi vào thế tụt hậu. Vậy Lâm Đồng – Đà Lạt phải làm gì để tháo gỡ mình tránh xa những nguy cơ ấy?
Văn Việt – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT- DL – Hà Nội – Năm 14(179)2000

Huế tổ chức Festival lần 2

Bộ Văn hóa – Thông tin và Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên – Huế, vừa họp bàn kế hoạch chuẩn bị tổ chức Festival Huế lần 2. Được biết, thời gian diễn ra lễ hội văn hóa có quy mô lớn nhất cả nước sẽ là tháng 5/2002. Dự tính, Festival Huế sẽ được tổ chức hoành tráng hơn lần đầu vào tháng 4 năm 2000. Tỉnh Thừa Thiên – Huế chịu trách nhiệm chủ trì công tác tổ chức. Bộ Văn hóa – Thông tin thực hiện các hoạt động văn hóa, văn nghệ, đạo diễn, chỉ đạo nghệ thuật các chương trình và điều phối lực lượng nghệ thuật trực thuộc Bộ tham gia lễ hội … Festival Huế 2002 sẽ có đại diện một số nước trong khu vực ASEAN tham dự. Các cơ quan chỉ đạo sẽ sớm tiến hành các thủ tục và công việc chuẩn bị từ sớm.
Quảng Ngãi: khu chứng tích Sơn Mỹ được nâng cấp thành bảo tang quốc gia
Nhân kỷ niệm 33 năm sự kiện xảy ra vụ thảm sát 504 thường dân ở Sơn Mỹ thành Bảo tàng quốc gia. Theo kế hoạch nâng cấp, toàn bộ khuôn viên của khu chứng tích sẽ được mở rộng lên 6.000 m²; phục dựng toàn bộ các di tích và hiện trường xảy ra vụ thảm sát, sưu tầm và bổ sung các hiện vật liên quan đến vụ thảm sát. Dự kiến, công trình sẽ được triển khai thực hiện trong năm nay, với tổng kinh phí khoảng 15 tỷ đồng.
Khánh Hòa phê duyệt dự án khu thương mại – Du lịch Hải Đảo
Vừa qua, Ủy ban Nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã phê duyệt dự án xây dựng công viên Hải Đảo với nhiều hạng mục công trình mới. Dự án sẽ thay đổi cơ bản hiện trạng, xây dựng mới khu thương mại – dịch vụ, khu có các trò chơi hiện đại (gồm tàu lượng siêu tốc, đường đua ô tô công thức 1, thuyền vượt thác, thảm bay, tàu điện trên không …), khu công viên nước, khu thể thao, cáp treo từ công viên ddeend tháp bà Ponagar … Tổng mức vốn đầu tư là 150 tỷ đồng. Dự kiến, công trình sẽ hoàn thành và đưa vào hoạt động trong năm 2002.
Nam Định khai mạc lễ hội Phủ Giày
Lễ hội Phủ Giày kéo dài 1 tuần đã được khai mạc vào sáng ngày 27/3/2001 (tức 3/3 năm Tân Tỵ), tại khu di tích Phủ Giày, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản với các hoạt động: lễ dâng hương, lễ rước kiệu, rước đồng, thi hát chầu văn, thi đấu cờ đèn dưới nước, thả đèn trời, kéo chữ và biểu diễn nghệ thuật.
Hà Nội khảo sát tình trạng ép mua ép giá khách du lịch
Theo dự kiến vào đầu tháng 5/2001, Sở Công an và Sở Lao động – Thương binh – Xã hội Hà Nội sẽ tiến hành khảo sát tình hình ép mua, ép giá (EMEG) khách du lịch tại 11 điểm di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, khách sạn lớn và địa bàn giáp ranh. Đợt khảo sát nhằm xác định các tụ điểm và mức độ phức tạp của từng tụ điểm; đánh giá số lượng, độ tuổi đối tượng, mức độ phức tạp của tệ ép mua ép giá để đề xuất biện pháp giải quyết với Ủy ban Nhân dân thành phố. Đối tượng được khảo sát bao gồm những người bán sách báo, đồ lưu niệm, ăn xin, đánh giầy … có hành vi vi phạm.
Được được biết hiện nay tình trạng người bán hàng rong đeo bám, ép mua ép giá khách du lịch tại Hà Nội diễn ra khá phức tạp song một số biện pháp giả quyết lại chưa phù hợp.
Tiến Hà – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Năm 13 (178) 2001.

Nghệ An đón mùa du lịch năm 2000

Tháng 5 cả nước rộn rã diễn ra những hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao cùng các công trình lớn hướng tới chào mừng lần thứ 110 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Ở quê hương Bác vào tháng 5 lịch sử, nhiều điểm du lịch nổi tiếng ngỡ quá tải. 35 đoàn tham gia Liên hoan tiếng hát từ Làng Sen toàn quốc, 7 đoàn hội diễn sân khấu chuyên nghiệp về đề tài Bác Hồ, giải bóng chuyền công nhân viên chức toàn quốc 14 đội và hàng ngàn lượt khách quốc tế đến quê hương Bác, Cửa Lò và các điểm du lịch khác.
Thành lập năm 1994, Du lịch được voi là mũi nhọn kinh tế non trẻ trong nền kinh tế của Nghệ An. Bằng nội lực và được các ngành liên quan hỗ trợ Du lịch Nghệ An sớm khẳng định vị thế trong nền kinh tế địa phương. Theo số liệu của Sở Du lịch Nghệ An: Năm 1999 có 8.500 đoàn khách tới tham quan quê Bác và nghỉ mát ở biển Cửa Lò, trong đó có 4.500 khách nước ngoài của hơn 30 quốc gia. Trong tháng 5/2000 diễn ra hội thảo “Phát triển kinhy tế du lịch 2001 và 2005” ba nước Việt Nam – Lào –Thái Lan hội thảo về việc nhập đường 8 thành bộ phận của trục xuyên Á. Vậy nên, dự tính năm 2000 số khách đến Nghệ An sẽ nhiều hơn năm trước.
Đón bắt vận hội mới: UBND tỉnh Nghệ An đã hỗ trợ cho nghành Du lịch 20 triệu đồng để tuyên truyền quảng cáo, Tổng cục Du lịch Việt Nam tài trợ 30 băng-rôn, 500 áp phích “Việt Nam – Điểm đến của thiên niên kỉ mới”. Hai pa-nô quảng cáo du lịch lớn, mỗi tấm trên 30 triệu đồng, Viện nghiên cứu phát triển Du lịch của Tổng cục Du lịch cử đoàn về khảo sát hỗ trợ kinh phí trùng tu sửa chữa khu di tích Kim Liên. Dẫu đang bận rộn, chúng tôi cũng được ông Chu Đình Việt – Phó giám đốc sở Du lịch dành cho một cuộc trao đổi ngắn. Ông cho biết: Được sự quan tâm giúp đỡ về vật chất lẫn tinh thần của Tổng cục Du lịch và lãnh đạo tỉnh, Sở Du lịch Nghệ An đã chỉ đạo các khách sạn củng cố trang thiết bị, mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ lễ tân, buồng, bàn, quầy bar cho 60 người. Tập huấn phòng chống HIV cho 40 người, ký hợp đồng lao động với số lao động thời vụ, đồng thời phối hợp với lực lượng Công An thành phố Vinh, Công An thị xã Cửa Lò bảo đảm an toàn cho khách. Hiện nay thị xã Cửa Lò có 58 khách sạn, nhà nghỉ gồm 1.450 phòng, 3.500 giường. So với năm 1999 thì năm 2000 thị xã Cửa Lò tăng thêm 200 phòng. Cùng với các khách sạn tại thành phố Vinh, toàn tỉnh Nghệ An có khoảng 100 khách sạn, nhà nghỉ. Đến nay mọi công việc chuẩn bị đón khách đã hoàn tất.
Chúng tôi đến Công ty Phương Đông, nơi đã đưa khách sạn Phương Đông vào phục vụ khách trong dịp Liên hoan tiếng hát làng Sen năm 2000. Giám đốc Trần Ngọc Khoan cởi mở: sáng 15/5/2000 khách sạn Phương Đông mở cửa đón các đoàn nghệ thuật quần chúng trong cả nước. Ngày 19/5/2000 UBND tỉnh, Sở Du lịch Nghệ An đã chính thức khánh thành đưa khách sạn Phương Đông (giai đoạn 1) vào khai thác sử dụng.
Khách sạn Phương Đông ca 11 tầng không kể tầng kỉ thuật, bao gồm 170 phòng khép kín, cầu thang máy, 3 cầu thang vận chuyển hành khách và hai cầu phục vụ dịch vụ nội bộ. Với hệ thống trang thiết bị mới lạ, hiện đại kết hợp vs truyền thống dân tộc, đây là một bước tiến quan trọng của Du lịch Nghệ An trong việc phục vụ khách du lịch tuyến Lào và Đông Bắc Thái Lan. Thực tế vào những năm gần đây, mỗi năm có khoảng 10.000 khách Lào,Thái Lan sang Việt Nam. Nghệ An đã chủ trương lược bớt thủ tục xuất nhập cảnh để tạo thuận lợi cho số lượng khách hàng tăng thêm trong hè 2000. Sau khi đưa khách sạn vào khai thác giai đoạn 1 với 90 phòng nghỉ cùng các khâu dịch vụ khách, các tầng còn lại tiếp tục hoàn thiện theo hình thức cuốn chiếu để đúng với mục đích đặt ra.
Khách sạn Phương Đông ra đời là bước đột phá về phục vụ nơi ăn chốn nghỉ của Du lịch Nghệ An, nhằm tạo bước phát triển mới trong lĩnh vực du lịch trên quê hương Bác. Hiện nay theo đánh giá của Tổng cục Du lịch, nghành Du lịch Nghệ An là một trong những điểm du lịch giàu tiềm năng của cả nước. Với sự ưu đãi của thiên nhiên và địa danh vốn có của mình được các nghành quan tâm, du lịch Nghệ An đang nổ lực phấn đấu trở thành trung tâm du lịch ở khu vực các tỉnh miền Trung, tỏa ra cả nước và bè bạn.
Bích Hạnh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(135)2000.

Những người ăn Tết muộn

Vườn thú Hà Nội rộng 21 ha là một “địa chỉ đỏ” về vui chơi giải trí ở thủ đô Hà Nội. Theo ông Nguyễn Thế Chấn – Trưởng phòng Hướng dẫn viên Du lịch (HDVDL) của vườn thú cho biết: “Từ đầu năm đến nay, lượng khách đến Vườn thú tham quan rất đông, chủ yếu là học sinh, trẻ em Hà Nội và các tỉnh “Bình thường” một tháng là một vạn lượt người. Một năm vườn thú đón 1,5 đến 1,7 triệu du khách”.
Sở dĩ có nhiều khách đến tham quan vườn thú vì ngoài các loài động vật quý hiếm như gà lôi, lam trắng, cầy vằn, voi khỉ, hổ, báo, hươu sao… Khung cảnh của vườn mát mẻ thoáng đãng. Cỏ cây được cắt tỉa cùng với các loài hoa rực rỡ sắc màu. Ông Vũ Đức Ninh – Trưởng phòng Kế hoạch vườn thú cho biết “Vào dịp Tết , lượng khách đến tham quan vườn thú Hà Nội tăng gấp hai lần so với ngày thường”. Có ngày cao điểm như mùng 4 và 5 Tết lên tới 3 vạn người”. Để chuẩn bị đón Tết, năm nào Vườn thú cũng đề ra hoạch trước đó 2 tháng. Công việc được bắt đầu triển khai từ ngày 15/12. Các chuồng thú xuống cấp được sửa sang vét vôi vệ sinh sạch sẽ. Đường vào vườn cũng được lát gạch sáng bóng. Do tính chất đặc thù, công việc của mỗi bộ phận có một nhiệm vụ khác nhau. Bà Nguyễn Thị Hiệu người đã 18 năm gắn bó với đội chăm sóc hoa tâm sự “Không được nghỉ Tết, chúng tôi rất buồn song vì công việc hơn thế nghĩ mình đang đem đến niềm vui cho mọi người là chúng tôi cũng thấy vui trong lòng”.
Có thể nói mấy chục năm nay cán bộ và công nhân viên Vườn thú Hà Nội không hề được đón Tết trọn vẹn cùng gia đình. Để chuẩn bị cho Tết cổ truyền năm 2001, ngay từ bây giờ Vườn thú Hà Nội đã lên kế hoạch nâng cao chất lượng các điểm phục vụ. Có 30 điểm vui chơi giải trí nằm rải rác trong vườn. Các công trình kiến trúc như nhà cửa, chuồng trại và hạ tầng cơ sở bị hư hỏng đã được cán bộ phòng kỹ thuật duy trì bảo dưỡng. Sở giao thông công chính đã đầu tư kinh phí 80 triệu đồng từ nay đến Tết cho việc sửa sang chuồng thú và các công trình phục vụ Tết.
Bên cạnh đó việc tổ chức kinh doanh dịch vụ cũng được chuẩn bị chu đáo ở hai cổng chính ra vào.
Vườn thú có 100 loài với 600 cá thể, nên các nhân viên của đội chăn nuôi phải chuẩn bị tết cho thú trước rồi mới đến gia đình mình. Họ mua đầy đủ thức ăn lương thực, thực phẩm gạo, ngô, khoai, thịt … dự trữ sẵn trong 2 ngày 30 và mùng 1 tết. Ngoài ra, họ còn luân phiên nhau chăm sóc kiểm tra và bảo vệ thú đêm 30, mùng 1 và mùng 2 Tết. Ông Võ Huy Triệu Trưởng phòng kỹ thuật có 30 năm gắn bó với nghề nuôi động vật tâm sự: “Ngày Tết việc chăm sóc thú lại càng bận rộn hơn nuôi con mọn. Việc chăm sóc rất khó, toàn thú quý nên chúng tôi phải chú ý nuôi dưỡng tốt để có đàn chim thú khỏe đẹp đem ra trưng bày phục vụ nhân dân trong dịp tết cổ truyền dân tộc”.
Vào những ngày Tết, lượng khách đến Vườn thú rất đông, nên đội ngũ công nhân bảo vệ cũng được tăng cường: người soát vé , người bảo vệ cửa ra vào, người trông xe giữ xe cho khách, người giữ gìn an ninh khu vực… Ngoài thời gian làm việc ban ngày họ phải trực cả đêm mỗi đêm có tới 100 người. Đặc biệt, đêm 30 tết, họ phải căng ra để bảo vệ, ngăn chặn tệ bẻ cành hái lộc đầu xuân. “Bận rộn như vậy, Vườn thú tổ chức đón tết cho anh chị em vào lúc nào?” Thấy tôi hỏi, ông Vũ Đức Ninh tâm sự: “Ngày 25/ 12 tết, lãnh đạo Vườn thú có tổ chức họp mặt cán bộ công nhân viên chúc Tết trước. Đêm 30 Tết vào lúc giao thừa, các đồng chí lãnh đạo, bộ phận bảo vệ và những người trực đêm liên hoan giao thừa. Ngày 5 Tết có đông đủ anh chị em đi làm, chúng tôi mới tiến hành chúc mừng năm mới theo tục lệ cổ truyền.
Cảnh ăn Tết muộn của những cán bộ, nhân viên Vườn thú Hà Nội bất giác khiến chúng tôi liên tưởng tới cái Tết muộn của vua Quang Trung và binh sĩ ra giải phóng kinh thành Thăng Long năm xưa. Chỉ khác, những cán bộ, nhân viên Vườn thú năm nào cũng phải ăn tết muộn.
Đỗ Bình Minh – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Làm gì để ngăn chặn tình trạng tùy tiện giảm giá phòng khách sạn ?

-Ông Richard Kaldor, Giám đốc Acoor Việt Nam: “Biện pháp cơ bản nhất là cân đối cung – cầu”
“Tôi tin rằng quyết định ban hành cơ chế quản lý giá nào đi chăng nữa, về trước mắt cũng như lâu dài sẽ phản tác dụng cho việc phát triển du lịch ở Việt Nam. Những cố gắng nhằm thống nhất đằng sau một cơ chế như vậy có lẽ tốt hơn là dồn vào việc quảng bá ngành du lịch của chúng ta trên trường quốc tế.
Nếu định đề ra một giá sàn tối thiểu, khi đó sức cung và cầu sẽ vận hành theo cách chống lại trước hết là các nhà đầu tư nước ngoài và các chủ đầu tư trong nước – những người đã gắn bó lâu dài với đất nước, với ngành khách sạn bằng việc xây dựng các khách sạn liên doanh ở đây. Mỗi chủ đầu tư, mỗi giám đốc khách sạn cần có cách kiểm soát vị trí của họ trên thị trường để có thể tự đề ra quyết định về việc làm sao bán được phòng và bán với giá nào trong một thị trường rất mềm như hiện nay. Việc định giá đó để cho những người điều hành khách sạn quyết định và tất nhiên nó được trợ giúp bởi biểu thức đơn giản của thị trường – đó là cung và cầu”.
-Ông Nguyễn Văn Đính – Khoa Du lịch, trường Đại học Kinh tế Quốc dân: “Nhà nước không nên quy định giá phòng khách sạn”
Chúng tôi cho rằng: Nhà nước (Tổng cục Du lịch, Sở Du lịch, Sở Thương mại – Du lịch) không nên và cũng không thể quy định giá dịch vụ lưu trú cho các khách sạn….Nhà nước chỉ có thể quy định giá hoặc hướng dẫn giá sàn, giá trần trong các trường hợp sau: sản phẩm “đặc biệt” hay mang tính “Quốc kế dân sinh”, sản phẩm Nhà nước độc quyền sản xuất, phân phối; sản phẩm do doanh nghiệp Nhà nước sản xuất ra. Mà sản phẩm của khách sạn không phải là “Quốc kế dân sinh”, cũng không phải Nhà nước độc quyền và khách sạn Nhà nước cũng chỉ chiếm tỷ lệ chưa đến 50%….
Nhà nước cần kiểm tra thường xuyên, nghiêm túc chất lượng của các khách sạn đã đăng ký kinh doanh theo các tiêu thức đã xác định, buộc các doanh nghiệp luôn luôn giữ vũng chất lượng, tránh được tình trạng giảm giá để cạnh tranh; kiểm tra cả các hãng lữ hành (đặc biệt là lữ hành quốc tế), nhằm tránh tình trạng đua nhau hạ giá, giảm chất lượng chương trình; Nhà nước có thể tạo điều kiện để các khách sạn có thể giảm chi phí bằng cách giảm giá cước bưu điện, thuế, giá điện….Có biện pháp xử lý thích đáng với doanh nghiệp trốn lậu thuế.
-Ông Võ Phi Hùng, Sở Du lịch Thừa Thiên – Huế: “Quản lý giá sàn nhưng cần kiểm soát chặt chẽ”
“Ở Thừa Thiên – Huế, đã tiến hành họp các chủ doanh nghiệp khách sạn thuộc mọi thành phần kinh tế, tất cả đều nhất trí cần quy định giá sàn. Nhưng phải có biện pháp quản lý chặt chẽ: Thành lập đoàn kiểm tra liên ngành gồm Du lịch, Tài chính, Thuế….đến từng khách sạn để đánh giá chất lượng bằng cách cho điểm. Từ đó làm cơ sở đưa ra giá sàn. Xếp từng nhóm khách sạn theo đặc thù cụ thể định giá theo nhóm.
Xây dựng mạng tin học với các doanh nghiệp khách sạn với các cơ quan quản lý như: công an, thuế….nhằm kiểm soát chặt chẽ hơn. Bên cạnh đó thường xuyên tổ chức kiểm tra đột xuất nhằm ngăn chặn tình trạng gian dối, trốn lậu.
Thành lập Hiệp hội khách sạn, trong đó các thành viên đóng góp một khoản tiền nhất định làm quỹ khen thưởng, quỹ này được bổ sung bằng tiền phạt những doanh nghiệp vi phạm….”
-Ông Đỗ Văn Hoàng – Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn: “Hiệp hội khách sạn là cần thiết”
“Trước mắt để giảm tính cạnh tranh về giá trị, cần thành lập các Hiệp hội du lịch khách sạn….Sự hoạt động của Hiệp hội nhằm đoàn kết, bảo vệ quyền lợi của các thành viên, bảo vệ giá trị của các sản phẩm, đảm báo giá phản ánh đúng giá trị và đảm bảo giá trị sử dụng cho khách hàng, tránh lạm dụng công cụ giá để cạnh tranh, không được chào bán giá phòng và giá dịch vụ dưới mức chi phí thực tế của phòng và dịch vụ đó. Các Hiệp hội mạnh sẽ là nhịp cầu nối liền giữa các cơ quan quản lý Nhà nước và doanh nghiệp, thông tin nhanh nhất những chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước cũng như phản ánh được tâm tư, nguyện vọng của các doanh nghiệp và tình hình thực tế, để các cơ quan quản lý Nhà nước có thể điều chỉnh các chính sách kịp thời, phù hợp”.
P.V – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

1001 tình huống trong đời hướng dẫn viên “Đi tìm chỗ ngủ”

Tôi nhớ lần đi tour Tây Bắc. Đoàn chúng tôi gồm có 5 người khách, tôi làm hướng dẫn, cùng một lái xe tuổi cùng với tôi.
Khách có 5 người thì chỉ có một phụ nữ. Bà ta là Maria, vợ ông Gecmano, trưởng đoàn, người Italia. Bạn của Gecmano là Giuseppe, tính tình hiền lành, vì bệnh đau dạ dày hành hạ nên người xanh xao gầy còm, trong túi lúc nào cũng có ít bánh mì, phó mát hay bánh quy. Một người khách nữa tên là Tonio, người lùn, để râu quai nón, trông giống diễn viên phim hài ta thường gặp. Nhân vật thứ năm trong đoàn tên là Franco, cao to, đẹp trai, trông ra dáng trí thức. Quả là phong cảnh miền núi hấp dẫn quyến rũ khách. Mỗi khi gặp cảnh đẹp hoặc lạ mắt, ông Gemano lại bảo lái xe cho dừng lại. Thế là cả đoàn xuống xe, lích kích máy ảnh, máy camera vừa quay, vừa chụp. Thăm xong Mai Châu, đoàn tiếp tục lên đường. Nói chuyện với nhau mãi, cả đoàn cất tiếng hát làm xao động cả một vùng rừng núi.
Rời Mộc Châu rồi Yên Châu, đến sẩm tối chúng tôi cũng tới thị xã Sơn La. Nằm giữa lòng chảo vùng Tây Bắc của Tổ quốc, Sơn La quả cũng dễ làm say đắm lòng người. Giống như các vị khách, tôi cũng lên Sơn La lần đầu. Tìm đến khách sạn, tôi bảo anh bạn lái xe cho xe đỗ lại, tôi vào chỗ lễ tân khách sạn. Trong sân la liệt xe các loại. Chà, không ngờ đây mà cũng đông khách như thế sao. Tôi nói với lễ tân tên đoàn và đề nghị bố trí phòng cho bạn. Cô gái phụ trách lễ tân trông xinh xắn như bông hoa núi cười rất duyên bảo tôi: “Xin lỗi anh, hôm nay khách sạn của chúng em hết phòng rồi, anh thông cảm tìm nơi khác. Lần sau nhất định chúng em sẽ dành phòng cho các anh.” Tôi ớ người ra, bảo là Công ty ở Hà Nội đã Fax báo đặt phòng rồi cơ mà. Cô gái vẫn giọng dễ thương nói như hát: “Vâng. Chúng em có nhận được Fax, nhưng hôm qua khách sạn có Fax xuống Hà Nội vì trường hợp đột xuất đặc biệt, nên các khách sạn Sơn La trong hai đêm sẽ không đón khách du lịch”. Tôi không còn hiểu thế nào nữa. Bây giờ biết trả lời cho khách như thế nào đây. Lúc ấy, Giám đốc khách sạn cũng ra chỗ lễ tân. Cô gái nói nhỏ với Giám đốc, và anh ta, với tác phong lịch sự, ra bắt tay tôi, hỏi thăm tình hình đoàn và bảo: “Rất tiếc, hiện nay có cuộc họp của các bí thư tỉnh ủy các tỉnh phía Bắc nên tất cả các khách sạn ở thị xã Sơn La theo yêu cầu của Tỉnh ủy phải phục vụ cho khách Hội nghị. Lần khác, hy vọng thế nào chúng tôi cũng được hân hạnh phục vụ các anh”. Lần khác là bao giờ, còn đêm nay, chúng tôi sẽ cho khách ngủ ở đâu ? Tôi hỏi thăm các khách sạn ở thị xã, thì nghe trả lời những cái kha khá đều hết chỗ. Thấy tôi không trở ra, ông Gecmano đi vào tìm tôi. Tôi phải kể rõ sự tình, do có hội nghị đột xuất, nên các phòng phục vụ khách khách Hội nghị. “Vậy chúng tôi sẽ nghỉ đêm nay ở đâu ?”. Tôi thấy nỗi băn khoăn thể hiện rõ trên nét mặt ông. Nhưng biết làm thế nào, lần đầu tiên dẫn một đoàn khách sang trọng phải đi tìm chỗ ngủ. Tôi bảo Gemano cứ lại xe nghỉ ngơi, tôi sẽ lo liệu. Tôi hỏi mấy nhân viên khách sạn có cách nào giải quyết được mấy phòng ngủ không ? Mấy người cũng thật thà, nói rằng ở thị xã khách sạn đếm trên đầu ngón tay, chỉ một hội nghị với dăm bảy chục khách là kín chỗ. Đang lúc băn khoăn, thì có một chàng trai nhân viên khách sạn tới chỗ tôi bảo: “Nhà em có một nhà mới xây, vài năm trước cũng kinh doanh khách sạn mini. Nhưng vì vắng khách nên định xoay sang kinh doanh mặt hàng xe đạp, xe máy. Hiện tại còn bỏ trống. Nhưng bây giờ bề bộn lắm. Phải bỏ sức ra dọn dẹp mới có chỗ ngủ. Còn giá cả không thành vấn đề. Anh cho bao nhiêu cũng được”. Nghe bùi bùi tai, tôi trở ra chỗ khách bảo anh lái xe cho khách vào quầy bar có gì ăn tạm lót dạ, tôi đi theo chàng trai lo chỗ ngủ cho cả đoàn. Chàng trai chở xe máy đưa tôi về nhà mình. Quả là một căn nhà rộng rãi, xây ba tầng. Nhưng trông bề bộn, lỉnh kỉnh nào vôi vữa, gạch ngói, xi măng. Bây giờ biết còn đi đâu ? Thế là tôi bảo chàng trai gọi thêm người dọn các phòng bố trí cho khách ngủ đêm nay. Khoảng một tiếng rưỡi mới tạm ổn. Tôi bảo chàng trai ra nói với Giám đốc khách sạn ban nãy mượn khăn trải giường, gối đệm cho khách. Và tôi cũng quay ra đón khách. Tôi bố trí cho vợ chồng Gecmano ngủ ở tầng hai, phòng bên cạnh cho Tonio và Franco. Còn ông Giuseppe khốn khổ thì phải ra phòng khách ngủ cùng tôi trên ghế sa lông. Màn cũng khó mắc. Tôi trông Giuseppe thân hình gầy còm, người quấn nêm trắng quanh mình vừa tức cười, vừa thương hại. Rồi đêm cũng sẽ qua đi, bình minh ngày mới lại đến. Sáng hôm sau gặp nhau ai cũng hỏi: – Ngủ có ngon không ? Và câu trả lời: – Rất ngon, không còn biết trời đất gì nữa. Cơm sáng xong, cả đoàn lại vui vẻ lên đường, tiếp tục cuộc hành trình đi Điện Biên Phủ.
Nguyễn Thắng – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Tưng bừng hoạt động lễ hội năm 2000

Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Ban chỉ đạo Chương trình hành động quốc gia về du lịch, năm 2000, đã đánh dấu một bước phát triển đặc biệt về Du lịch lễ hội của Việt Nam, trong đó Tổng Cục Du lịch đóng vai trò quan trọng và đã trực tiếp chỉ đạo công tác tổ chức nhiều sự kiện văn hóa và lễ hội truyền thống. Khởi đầu của năm 2000 là sự kiện văn hóa “Hội xuân Du lịch – Văn hóa Việt Nam năm 2000”, sự kiện có quy mô không lớn nhưng đã được các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước quan tâm cổ vũ, động viên, khuyến khích cán bộ, nhân viên trong ngành Du lịch. Tiếp sau đó còn có các sự kiện văn hóa liên hoan du lịch Hương sắc Miền Nam, Tuần Du lịch Văn hóa Hội An – Hành trình từ quá khứ, 990 năm Thăng Long Hà Nội, và gần hai chục lễ hội truyền thống từ Bắc Chí Nam, của đồng bào người Việt, đồng bào Chăm, đồng bào Khmer… đã diễn ra sôi động từ tháng hai đến tháng 11 năm Canh Thìn. Mở màn cho các lễ hội truyền thống là lễ hội Chử Đồng Tử – Hưng Yên và kết thúc là lễ hội tưởng niệm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm – tỉnh Hải Phòng. Trong số đó, phải kể đến những lễ hội được sự quan tâm của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân cả nước như lễ hội Đền Hùng ở Phú Thọ, lễ hội đền Kiếp Bạc ở Hải Dương, lễ hội Trường Yên ở Ninh Bình, lễ hội Lam Kinh ở Thanh Hóa… Những lễ hội này không những có quy mô lớn hình thức tổ chức đã kết hợp nghi lễ truyền thống và hiện đại tạo cho hoạt động lễ hội phong phú hơn, trang trọng và hoành tráng hơn. Thông qua các sự kiện văn hóa – lễ hội có thể nói chưa bao giờ ngành Du lịch Việt Nam tạo lập được một hình ảnh đẹp đẽ và gây ấn tượng sâu sắc cho người dân mọi miền như năm 2000. Hầu hết các lễ hội đã được các phương tiện thông tin ở địa phương và trung ương tuyên truyền tin, bài trước trong và sau lễ hội, công tác tuyên truyền đã đóng góp rất lớn cho sự thành công của chương trình. Dù chưa có một cuộc tổng kết chính thức để nhìn lại quá trình tổ chức các sự kiện văn hóa – lễ hội trong năm 2000, nhưng có thể rút ra được nhiều nhận xét và kinh nghiệm đối với công tác tổ chức lễ hội văn hóa. Tổ chức lễ hội là một hoạt động rất hợp lòng người. Những người dân ở các địa phương nơi diễn ra lễ hội đã nô nức chờ đón sự kiện từ nhiều tuần, nhiều tháng trước ngày lễ hội khai trương. Điều chúng tôi đã mắt thấy tai nghe ở một số địa phương là nhiều cấp, nhiều ngành trong Đảng cũng như chính quyền đã ra Nghị quyết, xác định mục tiêu, phương hướng cho lễ hội, thông qua đó nhằm đẩy mạnh thi đua, đoàn kết, sản xuất, khôi phục, và duy trì nếp sống văn minh, thuần phong mỹ tục của địa phương mình. Nhiều nơi, bà con đã vui lòng hy sinh cả những vườn cây lưu niên để mở đường vào hội. Nhà nước nô nức đóng góp người, đóng góp tiền, vật tư, dành thời gian để tập dượt chuẩn bị đón khách thập phương… cốt sao cho lễ hội được diễn ra đúng thời gian tôn nghiêm, hữu ích, vui tươi lành mạnh. Đặc điểm của lễ hội năm 2000, Ban tổ chức của tất cả các lễ hội đặt vấn đề tiếp đón khách thập phương trẩy hội lên hàng đầu và cũng bước đầu lo nơi ăn, chốn ở, đối tượng tiếp đón, người hướng dẫn đến các công trình vệ sinh môi trường, tổ chức hàng quán bán hàng, đồ lưu niệm… Khâu chuẩn bị lễ hội chu đáo hơn, bài bản hơn. Ban tổ chức nhiều lễ hội đã nhân dịp này tập hợp những người có kinh nghiệm, tâm huyết để sưu tầm, khai thác tư liệu trong thư tịch cổ, trong dân gian bổ sung nhiều tài liệu quý cho sử liệu của lễ hội. Các lễ hội đã xây dựng được kịch bản, khâu thiết kế, trang trí mỹ thuật, dàn dựng chương trình đều có kế hoạch và thực hiện chu đáo. Người dân ở địa phương được phổ biến công khai, cơ quan chức năng nghiên cứu chỉ đạo cụ thể? Đây là một bước chuyển biến quan trọng, tạo tiền đề đưa hoạt động lễ hội vào nề nếp, đảm bảo sự cân đối giữa đời sống tinh thần và đời sống vật chất cho nhân dân, đồng thời ngăn ngừa được những hiện tượng tiêu cực phát sinh từ hoạt động lễ hội. Việc tổ chức các sự kiện văn hóa – lễ hội cũng là dịp để các cơ quan ban ngành ở địa phương cũng như trung ương thể hiện sự phối hợp hành đồng Du lịch, văn hóa – thông tin, Công an, giáo dục, Y tế và các đoàn thể, như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội Nông dân… Sau các sự kiện văn hóa lễ hội, hầu như không để lại những hậu quả xấu cho môi trường xã hội cũng như môi trường sinh thái. Sau mỗi lễ hội, từng địa phương đã kịp thời thu dọn sạch sẽ, gọn gàng và nhanh chóng ổn định cuộc sống của nhân dân trở lại niềm vui cho dân chúng, an ninh trật tự được đảm bảo. Tuy nhiên, qua việc tổ chức lễ hội năm 2000, cho thấy tình trạng quá tải xảy ra ở hầu hết các lễ hội, vì nhân dân đến quá đông trong khi địa phương chưa đủ khả năng đón tiếp, nhất là với khách từ xa tới có nhu cầu nghỉ đêm. Các cơ sở lưu trú, các cơ sở dịch vụ chưa đáp ứng được nhu cầu cho du khách. Hoạt động du lịch gắn với lễ hội đã được triển khai ở một số địa phương, đã bộc lộ một số điểm yếu trong việc thu hút khách chủ yếu là đối tượng khách quốc tế, theo tour du lịch gắn với lễ hội, do đó kết quả mang lại chưa thật cao như chúng ta mong muốn. Thiết nghĩ, giữa các địa phương, các ngành, các đơn vị hoạt động du lịch rất cần tổ chức những hội nghị chuyên đề để rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm gắn các hoạt động văn hóa lễ hội trong những năm sau đạt hiệu quả cao hơn trong việc khai thác tour du lịch.
Trung Công -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Tác giả làng kiến trúc phong cảnh du lịch Việt Nam bị sa lưới pháp luật

Ngày 3/4/1999 Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã ký Quyết định truy tố Nguyễn Thị Thanh Thủy, nguyên Giám đốc trung tâm phong cảnh Việt Nam và Trịnh Hồng Triển, nguyên Phó Giám Đốc Sở Xây dựng Thành phố Hà Nội ra trước Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội. Hành vi phạm tội của hai “quan lại” này như thế nào?
Lừa Chính phủ và Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội
Năm 1992, cơn sốt đất với giá cả “leo thang” đến chóng mặt, tấc đất quả là tấc vàng. Một m2 đất ở ngoại thành giá lên tới 1 – 2 cây vàng/m2 . Các khu phố chính ở nội thành giá lên tới 10 cây vàng/m2. Hồ Tây, nơi quy hoạch là khu du lịch trong tương lai trở thành trung tâm “sốt” đất của Hà Nội. Và làng Võng Thị Hồ Tây trở thành miếng mồi béo bở cho những kẻ lòng dạ tham lam dòm ngó. Nguyễn Thị Thanh Thủy và Trịnh Hồng Triển tuy đã có nhà khang trang cũng không cưỡng lại được mong muốn có một căn nhà ở cạnh Hồ Tây. Nhưng làm thế nào để có được ? Sau nhiều lần khảo sát Võng Thị, bà Thủy, ông Triển quyết định lừa cấp trên. Thế là dự án xây dựng làng Kiến trúc phong cảnh du lịch hình thành, với một lá chắn thật mỹ miều: “Đưa ra một tổ chức mới về không gian đô thị, thu hút khách du lịch vào Việt Nam bằng thương mại và cây cảnh, cho thuê chỗ ở, nhằm giới thiệu các kiểu nghệ thuật phong cảnh và văn hóa Việt Nam truyền thống”. Đề án được nhanh chóng hoàn thành, và bà Thủy gửi ngay lên Hội kiến trúc sư Việt Nam để xin xác nhận. Sau khi được ông Tổng thư ký Hội Nguyễn Trực Luyện xác nhận, bà Thủy khẩn trương thành lập “Ban cố vấn” bằng cách ghi tên 8 đồng chí đều là lãnh đạo cao cấp của các Bộ và các ngành làm thành viên.
Trót lọt thủ tục này, bà Thủy gửi dự án lên Thủ tướng Chính phủ và một số Bộ, ngành để xin ý kiến.
Quả thực, ở Hà Nội có một làng kiến trúc phong cảnh du lịch nằm trong khu du lịch như mục tiêu bà Thủy nêu ra thật hợp ý của nhiều người. Chính vì vậy mà nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nhận xét: “Dự án làng kiến trúc phong cảnh sẽ là một đề xuất tốt và nếu thực hiện được dự án sẽ đóng góp vào việc hình thành, phát triển các khu dân cư của ta trong thời gian tới. Tôi mong đây là một thí điểm xây dựng một làng vừa mang đầy đủ tính truyền thống văn hóa Việt Nam, vừa làm đẹp cảnh quan môi trường Thủ đô. tôi đề nghị Bộ Xây dựng, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Bộ Văn hóa – Thông tin và các cơ quan hữu quan tạo mọi điều kiện thuận lợi để dự án được thực hiện”.
Được những lời “vàng” này, mưu đồ của bà Thủy ông Triển như được chắp cánh. Bà Thủy làm ngay công văn gửi Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Sở Xây dựng, Viện quy hoạch Hà Nội xin 5.400 m2 đất tại làng Võng Thị để thực thi dự án. Cùng với công văn này, bà Thủy còn trực tiếp gặp ông Trương Tùng, lúc đó là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội để xin thêm ý kiến “chỉ đạo”.
Cùng với hoạt động rất có hiệu quả của bà Thủy, ngày 24/06/1992, Trịnh Hồng Triển cũng “lộ mặt” ra tay, bằng cách làm công văn giới thiệu khu đất gần chùa Võng Thị quận Ba Đình cho Trung tâm thiết kế phong cảnh Việt Nam. Trong công văn ông Triển ghi rõ ràng việc cấp đất ở đây là cấp cho dự án “thuộc đề tài cấp Nhà nước”.
Với hai “gọng kìm”, một chạy lên Chính phủ, một chạy lên Ủy ban nhân dân thành phố mà kết cục là công việc cứ dần dần “xuôi mái, thuận dòng”. Ngày 27/06/1992, ông Vũ Huy Tự, Phó văn phòng Chính phủ ra công văn số 2775, ghi rõ: “Hội kiến trúc sư Việt Nam xin khoảng 5.000 m2 đất để xây dựng làng kiến trúc phong cảnh làm mô hình trong các dự án cấp Nhà nước KC11-11. và cũng tại công văn này, ông Lê Huy Tự còn bịa ra ý kiến của Thủ tướng Chính phủ: “Giao cho Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội xem xét đề nghị của Hội theo đúng các yêu cầu quản lý xây dựng cơ bản và đúng quy hoạch đô thị đã được duyệt”.
Và thế là, khi công văn bịa ý kiến của Thủ tướng chưa ráo mực, ngày 30/06/1992, ông Triển và ông Trương Tùng cầm bút ký ngay vào văn bản thỏa thuận đã được soạn thảo sẵn, đồng ý cho Trung tâm kiến trúc phong cảnh Việt Nam được nghiên cứu sử dụng đất tại làng Võng Thị để xây dựng. Kế đó, ngày 20/08/1992, ông Trương Tùng với cương vị Phó chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cầm bút ký vào giấy phép sử dụng đất số 167/UB, cấp cho Trung tâm kiến trúc phong cảnh Việt Nam 5.000 m2 đất để xây dựng công trình nhà và 861 m2 để xây dựng đường làng phong cảnh. Và cũng rất nhanh chóng, với cương vị Phó kiến trúc sư trưởng thành phố Hà Nội, ngày 09/03/1993, Trịnh Hồng Triển đã cấp giấy phép xây dựng số 269-3-1993, cho Trung tâm.
Với việc có đất và có giấy phép xây dựng, cú lừa của bà Thủy ông Triển đã hoàn thành. Tính từ khi bắt tay vào mưu tính cho đến khi “thành công” thời gian chỉ mất có 11 tháng. Với năm 1993 thì thủ tục này cũng nhanh đạt mức kỷ lục.
Đón đọc kỳ II: Làng kiến trúc phong cảnh đội lốt, thay hình.
Phạm Thành – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Thủy điện YaLy

Tổ máy I chính thức hòa vào dòng điện quốc gia 500KV
Vào hồi 20 giờ 15 phút ngày 12 tháng 5 năm 2000, tổ máy I Thủy điện Yaly đã chính thức phát điện với công suất tối đa 180 MVA và hòa vào dòng điện quốc gia 500 KV. Trước đó, chiều ngày 10 tháng 5, đã đưa điện tra trạm phân phối ngoài trời cách nhà máy là 4,5 km nhưng chưa thể hòa cùng 500 kv vì phải cân chỉnh lần cuối cùng. Một trong những nguyên nhân lâu nay Yaly chậm phát điện có lý do việc nhập các thiết bị thiếu đồng bộ làm cho quá trình lắp đặt, hiệu chỉnh trở nên hết sức phức tạp, kéo dài thời gian, tốn nhiều công sức, trí tuệ. Trong khi đó, để đảm bảo cao nhất việc phát điện an toàn, yêu cầu cân chỉnh thật chính xác được đặt ra nghiêm ngặt, các thông số kỹ thuật của thủy điện Yaly phải hoàn toàn trùng khớp với thông số của dòng điện quốc gia. Sau khi chính thức phát điện hơn một giờ đồng hồ, tổ máy I tạm ngừng dành cho lần hiệu chỉnh cuối cùng trước khi hoạt động liên tục, thông suốt. Việc tổ máy I thủy điện Yaly phát điện đã chấm dứt tình trạng kéo dài trong xử lý kỹ thuật đối với một công trình thủy điện quan trọng và sau nhiều lần lỗi hẹn tiến độ, thỏa lòng mong đợi của nhân dân cả nước về dòng điện quốc gia góp phần bổ sung lượng điện cần thiết cho cả nước trong tình hình khan hiếm điện hiện nay, phục vụ tính cực công cuộc Công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Tổ chức hội chợ triển lãm tại Vĩnh Long
Nhân dịp thông xe cầu Mỹ Thuận công trình của thế kỷ vào ngày 21 tháng 5 năm 2000, Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long chủ trường và giao cho Công ty Liên doanh Trách nhiệm hữu hạn Du lịch Trường An phối hợp với Công ty triển lãm quảng cáo Hội chợ Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức hội chợ triển lãm phát triển kinh tế – văn hóa – Thương mại và Du lịch Cửu Long tại khu du lịch Trường An, thị xã Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long từ ngày 20 tháng 5 đến ngày 28 tháng 5 năm 2000.
Chương trình khai mạc hội chợ ngày 20 tháng 5 năm 2000
Từ 7 giờ đến 8 giờ
Đón tiếp đại biểu và quan khách, có lồng chương trình văn nghệ, múa lân trống kèn. Chương trình văn nghệ ca nhạc chào mừng như múa Lân Sư Rồng, ca múa nhạc.
Từ 8 giờ đến 8 giờ 05: giới thiệu thành phần đại biểu.
8 giờ 05 đến 8 giờ 10: Phát biểu giới thiệu và chào mừng Hội chợ triển lãm của Ban tổ chức Hội chợ triển lãm.
8 giờ 10 đến 8 giờ 15: Công ty Dầu gió Trường Sơn – nhà tài trợ chính đọc lời chào mừng Hội chợ triển lãm.
8 giờ 15 đến 8 giờ 25: Lời chào mừng Hội chợ Triển lãm của Đại diện Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh hoặc của Sở Thương mại Thành phố Hồ Chí Minh.
8 giờ 25 đến 8 giờ 40: Diễn văn khai mạc Hội chợ của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
8 giờ 40: Đánh trống khai Hội tại Trung tâm văn hóa.
8 giờ 45: Chương trình cắt băng khai mạ hội chợ triển lãm. Đại biểu lãnh đạo Bộ ngành Trung ương. Đại diện lãnh đạo các tỉnh và Thành phố Hồ Chí Minh.
8 giờ 50: Tham quan Hội chợ triển lãm. Múa lân chào quan khách tham quan hội chợ.
10 giờ: Tiệc chiêu đãi Đại biểu do Ủy ban nhân dân Tỉnh chủ trì tại Nhà hàng Trường An.

Thất Sơn -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.