Khách sạn “Vườn xanh” ở Huế

Nằm chen lẫn trong các lùm cây xanh um tùm, một dãy nhà khang trang đã đập vào mắt tôi. Đó là khách sạn Thành Nội, đúng như tên gọi, khách sạn này nằm cạnh Hoàng cung triều Nguyễn trong một không gian yên tĩnh tự nhiên. Được biết khách sạn Thành Nội đã đạt được nhiều hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Yếu tố nào đã làm cho khách sạn Thành Nội thành công ?
Đi vào thực tế, khách sạn Thành Nội không giống như bao khách sạn khác, nếu nói là biệt thự du lịch cũng chưa hẳn là đúng mà ở đây là một tập hợp gồm những căn nhà xinh xắn liền kề nhau bao quanh bởi màu xanh thực vật.
Khi đến phòng tiếp tân khách sạn Thành Nội tình cờ tôi đọc được, trên cuốn sổ góp ý ghi lại những cảm tưởng của du khách nước ngoài sau khi đã trú ngụ tại đây.
“Chúng tôi rất thích thú khi ở lại đây. Thức ăn rất ngon. Đơn giản mà dễ thương. Chúng tôi thích uống nước chanh. Chúng tôi đã tìm thấy sự yên tĩnh và thư giãn. Xin cảm ơn lòng mến khách của khách sạn Thành Nội (Roselyn và Peter Michell-Australia).
“Người bạn dễ thương nhất (khách sạn Thành Nội), chỗ ở lý tưởng khi tôi đến Việt Nam. Tôi thường đi đây đó và luôn trở lại khách sạn Thành Nội mỗi khi đến Huế. Cảm ơn các nhân viên khách sạn đã đón tiếp tôi ân cần. Tôi sẽ giới thiệu với khách du lịch khác đến đây” (Kate-Mỹ).
Khách sạn Thành Nội mới thành lập được 3 năm, trực thuộc Ban Tài chính Quản trị Tỉnh ủy. Tuy khách sạn mới đi vào hoạt động trong một hoàn cảnh, môi trường kinh doanh có nhiều yếu tố phức tạp nhưng, với nỗ lực của tập thể Cán bộ công nhân viên, khách sạn Thành Nội đã đạt được những thành công trong hoạt động kinh doanh du lịch đáng khâm phục. Cụ thể: số khách năm 1998 tăng 136% so với năm 1996 (10.000 khách), đặc biệt khách quốc tế tăng 180% cộng thêm số ngày lưu trú bình quân trong năm 1998 là 2,9 ngày đã làm cho tổng doanh thu năm 1998 tăng 118% so với năm 1996.
Khi trao đổi với ông Lê Bá Hậu, Giám đốc khách sạn Thành Nội về bí quyết thành công của đơn vị, ông cho biết: “Bước đầu, chúng tôi đạt hiệu quả trong sản xuất kinh doanh nhờ 2 yếu tố: Một là khách sạn được sự quan tâm chỉ đạo của Ban Tài chính Quản trị Tỉnh ủy đã hỗ trợ doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch. Hai là anh chị em Cán bộ công nhân viên của khách sạn đã đoàn kết nỗ lực, ý thức tự chủ hoàn thành tốt công việc của mình. Doanh nghiệp đã tồn tại nhờ nâng cao chất lượng phục vụ về cả 3 mặt: cơ sở vật chất, thái độ phục vụ và chất lượng phục vụ.
Khách sạn đã tổ chức marketing tại chỗ, với cung cách phục vụ làm sao cho khách ngày càng hài lòng hơn. Khách sạn đã chú ý giới thiệu phát huy nét văn hóa dân tộc như: cơm cung đình, đặc sản bánh Huế mà du khách nước ngoài rất thích.
Ngoài ra, chúng tôi đã trực tiếp mời khách thưởng thức các sản phẩm đặc sản hương vị xứ Huế làm du khách cảm thấy thú vị. Với hoạt động đối ngoại quan hệ rộng song song với sự phục vụ ân cần chu đáo, chính vì vậy số lượng khách nước ngoài từ châu u, châu Mỹ, châu Á đến với khách sạn Thành Nội ngày một đông hơn”.
Chia vui với kết quả mà khách sạn Thành Nội đã đạt được, tôi cũng nhận ra rằng môi trường thiên nhiên, tĩnh lặng, ngôi “nhà vườn” phảng phất nét Á Đông với những lùm cây gọn gàng: những khoảng xanh thoáng dịu này và chất lượng phục vụ khách ở khách sạn đã góp phần tạo nên sự thu hút du khách của khách sạn Thành Nội.
Anh Duyệt – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Ca sĩ cũng cần tự giác nộp thuế

Cái tin kể từ ngày 1-8-1999, Nhà nước sẽ tiến hành thu thuế đối với các ca sĩ đã gây sự chú ý không chỉ riêng với giới ca sĩ mà còn cả với những người hoạt động nghệ thuật nói chung. Nhiều câu hỏi đã được đặt ra: Tại sao lại chỉ thu thuế ca sĩ? Liệu có thu thực không ?
Cần nói ngay rằng, việc thu thuế đối với ca sĩ là cần thiết và đáng lẽ phải thực hiện từ lâu. Bởi theo Pháp lệnh của Chính phủ ký ngày 27-12-1990, những đối tượng có mức thu nhập bình quân trên 2 triệu đồng/ tháng sẽ phải chịu “Thuế thu nhập đối với người thu nhập cao”. Việc thu nộp thuế được tiến hành rất nghiêm túc ngay từ năm 1991 với số tiền nộp ngân sách năm 1992: 153 tỷ và 1998: 1.710 tỷ đồng. Sở dĩ Cục thuế bây giờ mới “để ý” tới các ca sĩ vì trước đây cả 2 bên đều “chưa quan tâm” tới việc này. Cục thuế lơ là, còn các ông bầu, các nhà tổ chức cố tình… không nhớ. Hơn nữa, khi đó, chưa có con số chính xác cho catsê của ca sĩ. Gần đây, báo chí đã phản ánh nhiều, lên tiếng báo động về tình trạng catsê ngày càng tăng với các con số 1 triệu, 2 triệu đến 8 – 10 triệu đồng, gây ra sự bất bình đẳng trong nhu cầu thưởng thức âm nhạc của một số bộ phận khán giả. Với mức trên 2 triệu đồng / tháng đã có thể chiếu theo luật để nộp, vậy ca sĩ có số tiền thu nhập “khổng lồ” một tháng (thấp nhất 1 triệu / sô, cao là 10 triệu / sô, ngày có thể 2,3 sô diễn) có thể nằm ngoài “luật” được không ? Cần hiểu rằng, nộp thuế vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của mỗi cá nhân, tạo sự bình đẳng trong xã hội. Thuế thu nhập sau khi nộp vào ngân sách Nhà nước sẽ gián tiếp trở lại người dân bằng cách tính một phần vào cá hoạt động xã hội, các quỹ phúc lợi xã hội… Hơn nữa, chỉ thu thuế ca sĩ từ 1-8-1999 là một ưu đãi vì theo luật, phải truy thu 3 năm. Nhưng cơ quan thuế đã… bỏ qua, nên các ca sĩ phải thấy thế làm mừng, tự giác nộp thuế.
Các ca sĩ đòi catsê cao, không kể đến chất lượng nghệ thuật và nhu cầu được hưởng thụ văn hóa của nghệ thuật và nhu cầu được hưởng thụ văn hóa của khán giả là sự bất bình nơi người xem. Nhiều đơn vị nghệ thuật ngày đêm đi biểu diễn vùng xa xôi, hải đảo, miền núi… rất gian khổ, lăn lộn trên mọi nẻo đường Tổ quốc để đem lời ca tiếng hát phục vụ khán giả… mà thu nhập mỗi tháng chỉ 300.000 – 400.000 đồng, nếu so với các ca sĩ chạy sô như trên thì quả là quá chênh lệch. Theo bà Nguyễn Thị Cúc, Tổng cục phó Tổng cục thuế cho biết thì muốn thu thuế của các sĩ phải thu từ nguồn. Nghĩa là, các ông bầu, các nhà tổ chức đ1ong một vai trò rất quan trọng khấu trừ tiền ngay khi trả catsê cho ca sĩ. Nhiều người lo ngại rằng: việc này rất khó thực hiện được vì có thể các ca sĩ và các nhà tổ chức “câu kết” với nhau, cùng giúp nhau… trốn thuế. Vì không dừng ở thu thuế ca sĩ, các nhạc sĩ, đạo diễn, nghệ sĩ, nhà tổ chức… có mức thu nhập trên 2 triệu đồng cũng sẽ phải chịu thuế. Giải pháp duy nhất của cơ quan thuế bây giờ là… chỉ trông chờ vào sự tự nguyện của các cá nhân, có biện pháp trừng phạt đích đáng đối với kẻ trốn thuế. Chắc chắn phải có sự kết hợp của các cơ quan liên quan, việc thu thuế mới hiệu quả hơn.
Ngọc Huyền-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Lời cảnh báo cho các nhà du lịch thám hiểm “Dũng cảm”

Khi những người cứu hộ tìm thấy Robert Bogucki ở sa mạc Great Sandy vào ngày 23/8 thì anh đã bị mất tích gần một tháng rưỡi. Với cuốn Kinh thánh trong tay, anh lính cứu hỏa người Alaskan, Mỹ, 33 tuổi này đã đi vào nơi hoang dã để “giành lại hòa bình với Thánh”. Nhưng rốt cuộc người cứu anh thoát chết không phải là các thiên thần mà đầu tiên là nhóm cảnh sát địa phương, sau đó đến đội cứu hộ Mỹ và cuối cùng là phóng viên của Đài truyền hình đã đưa anh về nơi an toàn. Sau khi vượt qua 400 km sa mạc trong suốt 43 ngày Bogucki nói với đội cứu hộ: “Tôi phải từ bỏ đi bộ”.
Cảnh sát địa phương hy vọng họ đã có một bản danh sách các nhà du lịch thám hiểm đến Úc với lòng nhiệt tình háo hức nhưng không được chuẩn bị chu đáo để thử tự mình sống trong sự hoang dã. Sau khi được cứu vì trò mạo hiểm của mình, Bogucki đã cảm ơn và xin lỗi mọi người.
Bogucki bắt đầu chuyến du lịch của mình bằng xe đạp cùng với bạn gái của mình là Janet North. Sau đó cô bạn từ chối không thể đi tiếp khi Bogucki bỏ xe đạp cách phía nam Broome 300 km để đi vào sa mạc, với một chiếc lều bạt, thức ăn, nước và cuốn Kinh Thánh. North đã háo với cảnh sát rằng Bogucki đang đi tìm kiếm sự khai sáng về tinh thần và có thể tránh những người tìm kiếm. Bogucki nhanh chóng hết đồ dự trữ và rơi vào tình trạng phải ăn cây cỏ, hoa, lá. Nhưng theo anh “Tôi có cảm giác là Chúa sẽ quan tâm đến tôi”. Cảnh sát Úc cùng với sự hỗ trợ của chó nghiệp vụ đã từ bỏ cuộc tìm kiếm sau 2 tuần. Họ nói rằng: “Đó không phải là lỗi của chúng tôi nếu như có kẻ ngu ngốc dại khờ muốn đi bộ qua sa mạc và không muốn bị tìm thấy”.
Trở lại Malibu-California, cha mẹ của Bogucki đã thuê một đội cứu hộ tư đi tìm kiếm. Nhóm Response đặc biệt số 1 đã lôi kéo một lực lượng báo chí lớn. Họ tìm thấy chiếc lều cuối cùng của anh ta và một đội Truyền hình đã phát hiện ra anh ta từ chiếc trực thăng của họ. Họ đã phỏng vấn anh ta suốt 45 phút trước khi chở anh ta ra khỏi sa mạc đến thị trấn ven biển Broome. Trong bệnh viện, anh ta thấy mình bị hao mất 60 pound nhưng người vẫn khỏe mạnh.
Theo Ủy ban Du lịch Úc, số lượng người muốn khám phá thế giới bí ẩn của Úc ngày càng tăng, kể cả đi vào rừng lẫn đi vào sa mạc. Ủy ban này đã cảnh báo với khách du lịch, những ngày nghỉ đó gọi là “không đi bộ trong công viên”.
Ngày Bogucki được ra khỏi viện, cảnh sát đã buộc phải từ bỏ một cuộc kiếm tìm 5 thanh niên Úc tuổi khoảng 20. Họ đã bị mất tích ở Núi Tuyết từ ngày 7/8/1999, vì đi trượt tuyết mà không mang theo nhà lều và trang bị máy móc thông tin liên lạc, và… Kinh thánh.
Thúy Bình – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Du lịch Cần Thơ “20 năm – một chặng đường”

Công ty du lịch Cần Thơ, tiền thân là Công ty du lịch – cung ứng tàu biển Hậu Giang được thành lập ngày 12/5/1979, năm 1990 đổi thành Công ty du lịch Hậu Giang (sau khi sáp nhập Công ty khách sạn – ăn uống vào). Năm 1992, tỉnh Hậu Giang chia hai, một bộ phận của Công ty được tách ra để thành lập Công ty du lịch Sóc Trăng và Công ty cũng đổi tên thành Du lịch Cần Thơ.
Lợi thế so sánh của Cần Thơ để phát triển du lịch là loại hình du lịch sinh thái (Eco tourism) với các điểm tham quan như: chợ nổi, vườn cây, sân chim, đồng lúa, các cồn trên sông Hậu và một hệ thống kinh rạch chằng chịt.. Người Cần Thơ rất cởi mở và hiếu khách, hình ảnh các thiếu nữ miệt vườn trong tà áo bà ba phất phơ trước gió đã và đang là cảm hứng của nhiều bài ca. Du khách rất thích thú khi được ngồi trên ghe xuồng nhỏ len lỏi giữa những bờ kinh rợp bóng lá dừa nước để đến thăm những vườn cây trĩu quả, thưởng thức cá lóc nướng trui Nam Bộ và ngủ lại trong nhà vườn đầy tiếng chim ca…Các chương trình tham quan của Du lịch Cần Thơ khá phong phú, từ những tour nhập (inbound) dành cho khách quốc tế, đến các tour dành cho khách Việt Nam thăm phong cảnh miền quê vùng Đồng bằng sông Cửu Long, danh lam thắng cảnh ở các tỉnh thành khác trong cả nước và những chương trình du lịch nước ngoài đi: Thái Lan, Singapore, Hong Kong, Ma Cao, Trung Quốc, Châu u, Mỹ,….
Hiện nay 7 chương trình du lịch Đồng Quê 99 của chi nhánh Công ty Du lịch Cần Thơ đang thu hút khá đông đảo khách trong nước và thương gia nước ngoài từ Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Đông đi thăm: Mỹ Tho, Đồng Tháp, Châu Đốc, Hà Tiên, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu,….
Bên cạnh đó, nhờ vị trí trung tâm và hạ tầng cơ sở tốt, Cần Thơ còn được mệnh danh là “thủ đô của miền Tây Nam Bộ – Tây Đô”, với vai trò trung chuyển khách cho các tỉnh vùng đồng bằng. Trong tương lai gần, khi sân bay Trà Nóc trở thành một cửa khẩu khu vực và những tour liên tuyến trên sông Mekong giữa các quốc gia Đông Nam Á trở thành hiện thực – như dự báo của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO), thì vị trí Cần Thơ càng có vai trò lớn đối với du lịch xanh Đồng bằng sông Cửu Long.
Nhờ những lợi thế này, sau 20 năm hoạt động, từ 2 khách sạn và một nhà hàng lúc ban đầu, đến nay công ty đã có: 9 khách sạn, 3 nhà hàng, 2 đơn vị kinh doanh lữ hành tại Cần Thơ và Thành phố Hồ Chí Minh, đội xe – tàu, Tây Đô taxi, 2 khách sạn liên doanh 3 sao (SaiGon – Cần Thơ – liên doanh với Saigontourist, Victoria – liên doanh với Pháp) và trong thời gian tới, công ty sẽ thành lập thêm 2 liên doanh mới là Công ty Hàng Không Air Mekong và Công viên nước Cửu Long (Mekong water park).
20 năm, một chặng đường phát triển, với những thành tích đáng khích lệ, Công ty du lịch Cần Thơ đã được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng 2, 3, được Tổng cục Du lịch và Ủy ban Nhân dân tỉnh tặng nhiều bằng khen. Năm 1998 dù gặp nhiều khó khăn do lượng khách nhập giảm, trong khi Công ty lại đang đầu tư lớn nâng cấp khách sạn Quốc Tế 3 sao và các nhà hàng – khu du lịch cũng như mua sắm phương tiện vận chuyển, nhưng Công ty vẫn đạt doanh thu là 26,5 tỷ đồng với lợi nhuận là 346 triệu đồng. Có thể nói Du lịch Cần Thơ đã và đang là một Công ty du lịch hàng đầu ở miền Đồng bằng sông nước Cửu Long, một đơn vị lữ hành quốc tế của Việt Nam.
Hồ Trường Giang – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Dịch vụ nhà trọ cho sinh viên

Nhà trọ đã trở thành nỗi niềm của bao sinh viên ngoại tỉnh về ôn thi đại học ở Hà Nội. Có bao ông bố, bà mẹ cũng đi thi với con. Họ bán đi vài tạ chè Thái Nguyên, mấy đàn vịt bầu, dăm tạ thóc, có người bán cả con lợn cuối cùng trong chuồng đưa con “lều chõng” đi thi.
Nhà nghỉ ở ba khu vực quận Cầu Giấy, quận Hai Bà, quận Thanh Xuân đang là khu tam giác vàng về nhà trọ cho thuê. Xung quanh trường đại học Sư phạm ngoại ngữ, vùng Nghĩa Tân, vùng Xuân Đỉnh, làng Vòng, quanh chùa Hà, dịch vụ nhà trọ cho sinh viên thuê khoảng 40 – 50.000 đồng/tháng/người. Thường thì cứ ba, bốn sinh viên trọ một nhà. Có gia đình đầu tư ba gian nhà cấp bốn, một tháng đã có 600.000 – 700.000 bằng gần 3 tạ lúa. Ấy là giá thuê nhà ở trọ học trong năm. Còn trong mùa thi cử, giá cả không dừng lại ở đó. Những người có nhà cho thuê nắm rất chắc tâm lý của những bậc phụ huynh: việc đỗ hay trượt của con cái mới thật quan trọng, còn vài ngày đi thi thì dù nghèo túng phải chắt bóp từng đồng nhưng đắt rẻ dăm ba chục ngàn đều “không thành vấn đề”. Các gia đình khá giả hơn thì thuê hẳn nhà nghỉ hoặc khách sạn mini hai ngày. Đường Giải Phóng, phố Vọng những nhà trọ dịch vụ 70.000/ngày/đêm/phòng luôn “cháy chỗ”. Trong trường Đại học kinh tế Quốc dân, nhà dân cho thuê 10.000/ngày/đêm. Khu vực xung quanh phường Bách Khoa, phường Khương Thượng nơi có kinh nghiệm trong cách tiếp thị với tâm lý sinh viên tỉnh xa. Các nhà trọ ở tầng 3, tầng 4 khu chung cư thường một phòng cứ 300.000đ – 350.000đ/tháng nếu thuê đúng ngày thi (hai cha con hoặc bốn cha con của hai gia đình) thì 20.000đ/người. Các học sinh nghèo ngủ cùng các sinh viên trong trường năm thứ nhất, thứ hai (do sinh viên tự thu xếp) gọi là giúp đỡ nhau giá mềm cứ 5.000đ một em. Có em trọ cả tháng. Phòng nội trú sinh viên cũng kiếm thêm thu nhập chút đỉnh, cũng là “bầu ơi thương lấy bí cùng”.
Nhà trọ ăn theo mùa thi. Lại vô số các dịch vụ khác ăn theo nhà trọ. Cơm bụi, nước uống, nước tắm rửa, các loại nước giải khát, bánh trái, photocopy, văn phòng phẩm, các nhà thuốc, quạt nan, quạt giấy… đều nhất tề phục vụ mùa thi một cách sôi nổi hào hứng. Nghĩa là các bậc cha mẹ cứ vô tư mà bỏ ra nửa tạ thóc, yến chè búp, chục con vịt cho mỗi đứa con sống trong một ngày thử sức nơi trường thi là chuyện rất bình thường. Bác Nguyễn Văn Nghiêm ở Thái Nguyên tâm sự: “Giá vàng đang hạ, tôi đem 20 kg chè về Hà Nội cũng bị ép giá,không phải chỉ 20 kg chè búp, có nhà ở Thái Nguyên bán cả đồi chè cho con đi thi hai trường Kiến Trúc, trường Giao Thông, mà chắc gì đồi chè kia đã đủ. Hình thành hẳn một “thị trường” nhà trọ và cũng như bất cứ thị trường nào khác, thị trường này cũng có lúc “nóng”, lúc “lạnh”, mà “nóng” nhất là dịp đầu tháng 7 này tức là dịp thi tuyển sinh của các trường đại học. Nhiều chủ nhà trọ đã tăng giá vô tội vạ, bắt chẹt khách một cách thẳng tay, khiến biết bao người ở xa đưa con đi thi phải dở khóc, dở cười.
Có một cách tốt nhất, các bậc cha mẹ nên hỏi qua 108, hoặc 116, địa chỉ các văn phòng tư vấn nhà ở cho sinh viên thuê. Có thể đến tận nơi hoặc gọi điện thoại, dịch vụ tìm nhà cho sinh viên thuê ở các văn phòng nhà đất, họ có thể tư vấn giúp cho bạn giá nhà trọ ở nơi gần trường thuận tiện cho việc đi lại và việc học tập cho năm học mới, mà giá cả tương đối phải chăng.
Những hỡi ôi, từ các tỉnh xa các vùng nông thôn heo hút, mà lần tìm được 108, 116, cùng các văn phòng tư vấn này nọ thì là “cả một vấn đề”. Vậy có thể làm thế này được chăng: các văn phòng tư vấn nhà ở cho sinh viên ở các trường Đại học ở Hà Nội hãy chủ động tìm đến với bà con nông dân, đặt văn phòng liên lạc tại các huyện, các tỉnh để kịp thời giúp bà con gỡ các mối rắc rối này ngay tận gốc? Nếu được thế tin rằng mùa thi cử sẽ không còn là một gánh nặng đau đầu đối với mọi người như hiện nay.
Hoàng Việt Hằng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Đức vua Lý Thái Tổ – ấn tượng và cảm nhận

Nổi tiếng về một nhân cách
Năm 2005, với sự tiến cử của thiền sư Vạn Hạnh (vốn là một quân sư rất được Lê Đại Hành tôn kính), Lý Công Uẩn được vua Trung Tông (con trưởng của Đại Hành) chấp nhận vào triều đình Hoa Lư, tiến phong chức vụ Đại tiền quân. Nhưng Trung Tông mới làm vua được 3 ngày đã bị em ruột là Long Đĩnh (tức Ngọa Triều) giết hại để cướp ngôi. Các quan hoảng sợ bỏ chạy toán loạn, trong khi đó chỉ có một mình Lý Công Uẩn ôm xác vua khóc. Đây là một hành động nổi tiếng trong lịch sử các vua chúa Việt Nam, nó vừa thể hiện một con người có tư tưởng trung quân ái quốc, vừa thuỷ chung có trước có sau. Chính long trung và nghĩa khí ấy đã khiến một ông vua đa nghi và khét tiếng tàn bạo như Ngoại Triều phải trọng nể và tin dùng. Sau khi lên làm vua, Ngoại Triều vinh cho Lý Công Uẩn làm Tứ sương quân Phó chỉ huy sứ, rồi sau lại thăng đến chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ. Đã từ lâu Ngọa Triều nắm được nhiều nguồn tin và những “điềm báo” về việc nhà Lý sẽ lên thay nhà Tiền Lê. Khi lên ngôi, Ngọa Triều lập tức tổ chức những “chiến dịch” tìm diệt những người họ Lý một cách tàn khốc. Nhưng oái ăm thay y vẫn không mảy may nghi ngờ gì đến Lý Công Uẩn; chứng tỏ, hoặc là niềm tin của Ngọa Triều vào ông lớn biết chừng nào, hoặc là “khí số” nhà Tiền Lê đã hết. Có người cho rằng Lý Công Uẩn khéo che giấu động cơ khoán đạt của mình, nhưng lại không đủ chứng cứ. Lịch sử không thể lên án ông được điều gì, trái lại, lịch sử đã đặt lên vai ông trọng trách của một ông vua – người đại diện cho những lực lượng tiến bộ, có trách nhiệm đưa đất nước bước sang một trang sử mới.
Từ “Rồng Ấp” đến “Rồng Bay”, hay là từ cội nguồn đến ý tưởng
Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế vào tháng 10 năm Kỷ Dậu (1009) thì 10 tháng sau, tháng 7 năm Canh Tuất (1010) đã dời bỏ Hoa Lư để về với kinh phủ Đại La. Đọc bài Chiếu dời đô, ta thấy được Đại La “ở một chỗ trung tâm của trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, tiện nghi núi sông sau trước, muôn vật phồn thịnh, thật là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương”. Lý Thái Tổ trực tiếp cầm bút thảo Chiếu dời đô, với tư cách là tác giả và là chủ dự án “Công cuộc dời đô” trong cái lo cho chỗ đứng chân của “muôn vạn đời con cháu”. Và ta còn thấy ở ông một kiến thức cực kỳ uyên bác về phong thuỷ học để nhận ra không thể sai lầm thế đất đẹp đẽ của Đại La – mà trước đó đã từng lọt vào con mặt thực dân cú vọ của tên quan cai trị phương Bắc là Cao Biền. Lý Thái Tổ tâm niệm rằng chỉ có Đại La “là nơi thắng địa” số một của nước Nam này, xứng đáng là nơi “Thượng đô kinh sư mãi muôn đời”. Đọc bài Chiếu dời đô, ta thấy tầm nhìn khoáng đạt của một bậc đại hiền, đã vượt xa cái lo “thành cao hào sâu” của một thủ lĩnh quân sự. Rằng chỉ có ở Đại La các vua chúa mới có thể nhìn rõ bốn phương để thi thố tài năng toàn diện của mình. Một thủ đô của thời kỳ phát triển rất mạnh của chế độ phong kiến tập quyền đã tâm đắc với một nhãn quan mới mẻ.
Từ Hoa Lư, thuyền rồng vừa tới sông Hồng thì ở Đại La đã có điềm lành “Rồng Bay” kiệt liệt chào đón đức vua Lý Thái Tổ, như chào đón một thời đại mới. Sử sách đều ghi rằng, Lý Thái Tổ căn cứ vào “điềm lành” ấy để đặt tên cho kinh đô là Thăng Long. Điều đó không có gì sai, nhưng tôi cứ băn khoăn tự hỏi rằng, một con người có chiều sâu nội tâm như Lý Công Uẩn có phải chỉ là như vậy không? Ta hãy ngược đường về Châu Cổ Pháp, nơi phát tích của Vương triều và đã từng là nơi đối đầu quyết liệt giữa các lực lượng dân tộc yêu nước và kẻ thù xâm lược phương Bắc. Ở đây, một bên là Cao Biền nhận mật lệnh của của Đường đã đào bới tới 19 điểm mà hắn nghi là có “huyệt đế vương” và trấn yểm đi để kìm hãm sự phát lộ các nhân tài người Việt. Một bên là các cao tăng Việt Nam cũng rất giỏi về thuật phong thuỷ đã cho san lấp tất cả để “hàn gắn” các địa mạch ấy. Riêng hai thiền sư Vạn Hạnh và Khánh Văn đã chọn một khu đất rất đẹp có hình “Rồng Ấp” đặt mộ cho các cụ thân sinh ra bà Phạm Thị. Câu chuyện có nhiều chất huyền thoại nhưng người mẹ tuyệt vời ấy đã sinh nở ra Lý Công Uẩn và khu mộ Tổ mang tên “Rồng Ấp” là một địa danh có thực ở làng Dương Lôi. Từ Rồng Ấp, Rồng Nở, đến Rồng Bay có gì khiên cưỡng không hay chính là một logic của từ duy? Rồng Bay! Thật là tuyệt vời trong tầm cánh đại ngàn, có lẽ Lý Thái Tổ không thể quên nguồn gốc và là điểm xuất phát của mình: Đó là giòng giống, quê hương, nơi phát tích của triều đại với bao điều ẩn tàng kỳ diệu. Rồng Bay! Đó là tâm nguyện và ý chí về cá nhân ông, và cao cả hơn là hoài bão về một quốc gia cường thịnh.
Sơn Phong – Tuần Du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999

Người Thái Lan du lịch Thái Lan

– Thái Lan: thượng tuần tháng 7, các bộ trưởng kinh tế trong nội các Thái Lan họp xem xét một khoản ngân sách đặc biệt 195 triệu Baht do Cơ quan du lịch Thái Lan đề xuất mở rộng thị trường du lịch và thảo luận đề nghị của Cơ quan du lịch Thái Lan về những biện pháp thúc đẩy du lịch trong nước thông qua chương trình “người Thái Lan du lịch Thái Lan” nhằm khắc phục tình trạng người Thái Lan đi du lịch nước ngoài tăng lên.
Trong 6 tháng đầu năm nay, sự phục hồi kinh tế và sự cạnh tranh về du lịch của các nước và lãnh thổ láng giềng như Singapore, Hong Kong….khiến người Thái Lan đi du lịch nước ngoài nhiều hơn. Đặc biệt trong tháng 3/1999 có tới 370.000 người, tăng 15,85 so với cùng kỳ năm ngoái. Dự đoán trong cả năm 1999, Thái Lan sẽ có khoảng 1,7 triệu người đi du lịch nước ngoài, tăng 20% so với năm 1998. Với mức tiêu dùng bình quân 3.000 Bạt/người thì số tiền mà du lịch Thái Lan bị “thất thoát” không dưới 67 tỷ Bạt trong năm nay. Năm ngoái số người Thái Lan đi du lịch nước ngoài giảm 14,9% so với năm 1997.
Theo Giám đốc Cơ quan du lịch Thái Lan, trong 5 tháng đầu năm 1999, số khách du lịch nước ngoài đến Thái Lan là 2,5 triệu người, tăng 10,04% so với cùng kỳ năm ngoái.
– Trung Quốc: ngày 3/7, một chiếc tàu chở hơn 40 hành khách đang lưu hành trên sông Phú Giang thuộc tỉnh Tứ Xuyên đã đâm vào một chiếc cầu sắt làm toàn bộ số hành khách đều bị nhấn chìm. Mặc dù các biện pháp cứu trợ đã triển khai khá nhanh chóng song cũng chỉ có 12 hành khách được cứu sống còn khoảng 3 chục người còn lại đã bị dòng nước cuốn trôi mất tích. Sau hai ngày tìm kiếm hiện mới chỉ phát hiện được xác của 3 nạn nhân trong số những người bị mất tích nói trên.
– Bungari: Chính phủ Bungari đã quyết định từ 0h ngày 5/7 thay đổi mệnh giá đồng tiền quốc gia – mệnh giá đồng tiền hiện nay sẽ được bỏ đi ba số không: đồng 1.000 lêva cũ theo mệnh giá mới sẽ là 1 lêva.
Theo khuyến nghị của Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF), từ 1/7/1997, ửo Bungari đã thực hiện chế độ của Hội đồng tiền tệ – đồng lêva Bungari bị “ràng buộc” và đồng Mác Đức – 1 Mác luôn luôn bằng 1.000 lêva. Nhưng tỷ giá đồng đôla vẫn sẽ thả nổi. Sau khi thay đổi mệnh giá đồng lên lêva, 1 Mác Đức sẽ bằng 1 lêva
– Kenya: Kể từ ngày 1/7, Kenya cho phép các du khách đến từ Mỹ, Anh, Bỉ, Pháp, Thụy Sĩ, Luychxembua và Hà Lan đến thăm nước này dưới 30 ngày không cần phải xin visa. Kenya cũng đang chờ đợi một sự cho phép tương tự từ Mỹ, Nhật, Canada, Australia, New Zealand và Austria đối với các du khách của mình.
Vụ đánh bom khủng bố gần Đại sứ quán Mỹ tại Nairobi (thủ đô Kenya) tháng 8/98 đã làm cho nhiều du khách Mỹ và phương Tây ngại đến Kenya. Cả năm 1998, có 894.000 du khách nước ngoài đến Kenya, giảm 10,6% so với năm trước và là mức thấp nhất kể từ 1993.
Nguyễn Chiến – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Đôi nét đời sống tình ái 2500 năm trước ở Hy Lạp

Vào cuối thế kỷ thứ V trước công nguyên, cuộc chiến tranh giữa Athènes và Sparte kéo dài, đàn ông phải ra trận, đàn bà ở hậu phương nằm ngoài vòng kiểm soát của chồng, do đó chỉ một số rất nhỏ kiên nhẫn chờ chỗng, số đông nhảy vào những cuộc phiêu lưu tình ái mới. Vấn đề được đặt ra là có nên lên án đám phụ nữ ngoại tình này không ? Euripide (480 – 406 TCN) thi sĩ đại tài, người có uy tín, rất thẳng thắn trong việc lên án thói hư của phụ nữ nhưng do thời thế ông đã thay đổi cách nhìn, ông nói: “Người đàn ông hy sinh tính mạng vì tổ quốc là điều đáng trân trọng, nhưng chửa đẻ còn khó nhọc và nguy hiểm hơn ra trận gấp ba lần !”.
Còn nhà thơ, nhà viết kịch vĩ đại Aristophane (445 – 386 TCN) lại đưa quan điểm bênh vực phụ nữ của mình vào hài kịch Lysistrata. Nhưng nhân vật nữ trong kịch đều kiên quyết đòi đàn ông chấm dứt chiến tranh, đồng tình đóng cửa phòng nếu chồng là chiến binh từ mặt trận trở về gọi cửa. Nhưng trong số những nhân vật nổi tiếng đứng ra bênh vực quyền lợi và bào chữa cho phụ nữ thì tiếng nói của đại danh y Hippoerate (460 – 377 TCN) gây được nhiều ấn tượng hơn cả. Ông đã đứng trên quan điểm y học để phân tích mọi chứng bệnh tâm lý xã hội của phụ nữ Hy Lạp thời bấy giờ thường bắt nguồn từ khủng hoảng thiếu về phương diện sinh lý, ông nói: “Cơ quan sinh dục chính yếu của phụ nữ là tử cung, nếu nó không thường xuyên được dịch tinh trùng của đàn ông thấm ướt thì hậu quả là máu sẽ dồn vào những phần trên cơ thể gây ra tình trạng xáo trộn trí thông minh, đồng thời làm phát sinh những chứng bệnh như khó thở, hay xúc động, trầm uất, nóng nảy…”. Trên thực tế, một số phụ nữ mắc những chứng bệnh về tâm sinh lý ấy đã khỏi hẳn sau khi lấy chồng. Phương pháp chữa trị hiệu nghiệm và hoàn toàn không dùng đến thuốc của ông vẫn được áp dụng rộng rãi mấy nghìn năm nay.
Nhưng thực kỳ lạ, khi cuộc chiến kết thúc, người chồng đã trút bỏ binh phục trở về với cuộc sống gia đình mà tình trạng hôn nhân bê bối trước đó vẫn không hề được cải thiện; cụ thể, đàn ông có vợ thì hờ hững chuyện chăn gối, lớp trai tân thì không có đếm xỉa đến chuyện kết hôn, đó là nguyên nhân đầy đám đàn bà con gái vào dòng xoáy tình ái tự do buông thả, những vụ ly dị xảy ra ngày càng nhiều cũng là hậu quả tất yếu.
Nhưng rốt cuộc người ta cũng đã tìm ra nguyên nhân: Athènes thua trận, kinh tế bị suy sụp, nhiều người không tìm được việc làm, giá cả hàng hóa, sinh hoạt đắt đỏ… Cả xã hội đi vào chiều hướng bế tắc; đàn ông thì mệt mỏi chán chường, đàn bà trượt dài trên bờ dốc tha hóa. Nhà nước dân chủ Hy Lạp quyết định sửa đổi lại địa vị pháp lý cho người phụ nữ, đem đến cho họ quyền ưu đãi giáo dục và dân chủ, vận động họ tham gia các hoạt động xã hội. Nhà triết học Socrate (470 – 347 TCN) đặt ra yêu cầu cao hơn, đòi một sự bình đẳng toàn diện về pháp lý giữa vợ và chồng. Ông đề nghị phải có một bộ luật hoàn chỉnh gồm những điều khoản chi tiết rõ ràng nhằm ngăn chặn và trừng phạt mọi công dân Athènes có những quan hệ sinh lý bất chính, không dung túng ngoại tình – nói rõ hơn là quan hệ tình dục với người đàn bà không phải vợ mình dưới bất cứ hình thức nào.
Hình như, để hạn chế tính phóng đãng của những phụ nữ đã có chồng, mà chủ yếu là phụ nữ thuộc tầng lớp trên, luật pháp thời ấy còn cấm ngặt họ đến vận động trường Ôlempie (Jeux Olympiques), lý do dễ hiểu là con đường dẫn đến Đại vận hội phải đi ngang qua thành Corinthe là nơi có nhiều tự điểm ăn chơi sa đọa…
Duy Nghĩa-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Bọn bất lương gieo rắc “cái chết trắng” bằng cách nào?

Vẫn biết ma túy là thứ nguy hiểm gây chết người, đã bị đưa vào loại cấm lưu hành, tàng trữ và sản xuất dưới mọi hình thức song vì số tiền lãi siêu lợi nhuận nên nhiều kẻ bất chấp sự trừng trị nghiêm khắc của pháp luật, cứ lao vào kinh doanh mặt hàng gắn liền những “cái chết trắng” này.
Thường mỗi khi bị động hoặc cất chuyển hàng từ nơi này đến nơi kia hoặc vì một lý do nào đó mà chưa tiêu thụ được hoặc muốn bán xé lẻ để ăn đầy hơn thì bọn buôn bán ma tuý bao giờ cũng phải có chỗ cất giấu. Và trong hàng năm thủ đoạn, mánh khoé để cất giấu ma tuý thì chẳng có thủ đoạn nào giống thủ đoạn nào.
Đỗ Bá Dục (Sinh năm 1946) ở số nhà 18, tổ 14, phường Phúc Tân, giao du với nhiều đối tượng có tên trong danh sách nghiện hút. Bản thân hắn cũng là con nghiện, ít ra một ngày cũng phải xài hết vài “bi”. Mà cái chuyện đã đâm đầu vào hút thuốc phiện, chỉ có ngày một mạt vận chứ chẳng thể ngóc đầu lên được. Ấy vậy mà không hiểu sao bỗng dưng tên Dục lại có đồng ra, đồng vào, ăn tiêu rủng rỉnh. Hắn chẳng có nghề ngỗng gì rõ ràng. Dân phố chỉ thấy, cứ sâm sẩm tối (toàn sâm sẩm tối) là hắn vẫy xe xích lô đến tổ 10 – một địa bàn công cộng khá phức tạp – diễu quanh mấy vòng rồi về. Khi bị công an phường phục kích bắt, lúc đó mọi người mới biết Dục thuê xích lô đi bán heroin như kiểu bán hàng rong. Chính vì bán cái chết trắng bằng cách lưu động như vậy mà hắn đã che mắt được mọi người và các cơ quan luật pháp khá lâu.
Thời gian gần đây trước sự truy quét ráo riết của công an Thành phố Hà Nội, những thủ đoạn vận chuyển, cất giấu, mua bán ma tuý mỗi ngày càng được nâng cấp tinh vi.
Tên Hà Huy Lương (Sinh năm 1969) ở 46 Hàng Gai từng có 3 tiền sự về tội sử dụng ma tuý và gây rối trật tự công cộng nên tất cả những biến đổi lạ, nhỏ của y đều bị nhân dân quanh khu vực để ý. Vì vậy khi thấy tên Lương vốn rất lười và sợ xuất hiện trước đám đông nhưng lại bỗng dở chứng thích đi bát phố, gặp gỡ bạn bè (toàn là con nghiện) thì một số đối tượng nghiện hút, lầm lỡ đã được cảm hoá tới báo cho công an biết. Qua theo dõi, các trinh sát phường Hàng Gai thấy trong lúc đi dạo, tên Lương luôn luôn có một bao thuốc lá ở trong túi áo, gặp những thằng bạn trên đều rút mời. Câu hỏi tại sao một kẻ từng được bạn bè gắn cho câu “vắt cổ chày ra nước” lại tự dưng hào phóng như vậy, đã được nhanh chóng trả lời sau đó không lâu. Thì ra từng gói nhỏ heroin được tên lương nhét vào trong bao thuốc lá (một bao nhét được 37 gói) lúc gặp bạn nghiện là rút ra bán với giá 40.000 đ/gói. Nếu một ngày bán hết một bao, tên lương sẽ kiếm được bình quân khoảng 300 nghìn tiền lãi.
Tháng 5 năm 1999, trong số các vụ buôn bán heroin mà công an Thành phố Hà Nội bắt được thì thủ đoạn cất giấu ma tuý của vợ chồng Hoàng Quốc Hải (ở 49, Ái Mộ 2, thị trấn Gia Lâm) cũng thuộc dạng cáo già. Chúng chia heroin thành từng liều nhỏ, bỏ xuống đáy chậu trồng cây cảnh, sau đó đổ đất vào, rồi dùng cây có gốc đặt lên trên. Khi khách quen tới mua (người lạ không bao giờ bán) mới ra lấy, sau đó nguỵ trang lại như cũ.
Bên cạnh những gã thanh niên dặt dẹo, những tên đàn ông râu xồm tóc bù chuyên sống bằng nghề buôn ma tuý và chúng xác định “vào tù, ra trại chỉ là giấc nghỉ trưa” thì các bầy đàn phụ nữ cũng tỏ ra không hề kém cạnh trong sự ganh đua đi gieo vãi cái chết người này cho đồng loại. Có khi trong một số trường hợp ở một số bối cảnh, bọn nữ quái này còn lợi thế hơn đàn ông.
Nguyễn Thị Hồng Hương (Sinh năm 1967) ở ngõ 190, tổ 10, phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân đã biết dùng thủ đoạn chửa đẻ liên tục để buôn bán heroin. Vì vậy mà mấy lần bị công an bắt, thị đều được hoãn thi hành án. Cứ thế, lợi dụng chính sách nhân đạo của pháp luật, Nguyễn Thị Hồng Hương đã sòn sòn tái phạm buôn bán ma tuý rất nhiều lần. Trước sự quá quắt của thị, buộc các cơ quan pháp luật phải bắt, cách ly thị với đàn ông, không cho chửa, đẻ để rồi mãi tới cuối năm 1998, toà án lôi cổ được thị ra trước vành móng ngựa và tuyên phạt 17 năm rưỡi tù giam.
Tuy nhiên sự trừng phạt nghiêm khắc đắt giá này vẫn không làm cho nhiều ả, nhiều mụ mở mắt lấy làm bài học để tỉnh ngộ, để hoàn lương. Hết tốp này đến tốp kia vẫn lao đầu vào những vòng xoáy của ma tuý và nghĩ ra thêm đủ các thủ đoạn mới để vận chuyển, tàng trữ cũng như trong cách mua bán. Hà Thị Phương (Sinh năm 1958) ở khu tập thể Cơ khí cầu đường phường Văn Chương, quận Đống Đa, có lần để qua được mặt công an nam, ả đã giấu thuốc phiện vào cả trong chỗ kín của phụ nữ. Khốn nạn nhẫn tâm hơn, người mẹ trời đánh Vũ Liên Nga (ở ngõ Tất Lộc – Hoàn Kiếm) đã lôi đứa con gái 14 tuổi trong trắng thơ ngây vào cuộc và thường bắt cháu đem heroin đi tới điểm tiêu thụ hẹn trước cho mụ bán, để tránh sự theo dõi phát hiện của công an.
Dù bọn chúng có những thủ đoạn tinh vi đến đâu, với sự giúp sức của nhân dân, lực lượng công an vẫn phát hiện, bắt giữ được, và buộc chúng phải nhận bản án xứng với tội ác đã gây ra cho xã hội.
Giang Thạch – Tuần Du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999

Đừng ép khán giả cười một cách vô duyên

Gần đây, các chương trình hài bung ra hàng loạt, chiếm tình cảm của khán giả: Đời cười 1, 2: Kẻ khóc người cười 1, 2; Danh hài 99…. Người ta tìm đến với chương trình để cười giải trí sau những giờ phút căng thẳng, mệt mỏi bởi những công việc thường nhật. Song, không còn háo hức như buổi đầu, khán giả đã dè dặt, chọn lọc hơn bởi đã thấy có dấu hiệu của sự lặp lại, nhàm chán trong các chương trình. Bởi thế, cuộc gặp gỡ của những “cây hài” Nam – Bắc trong chương trình “Bắc – Nam cùng cười” là điểm nhấn, cái mác đảm bảo kéo khán giả đến rạp, mặc dù giá vé không rẻ chút nào; 80.000 – 100.000đ
Gặp lại những gương mặt quen thuộc của “làng cười” Hồng Vân, Minh Nhí, Lê Vũ Cầu (Thành phố Hồ Chí Minh), Xuân Hinh, Đức Hải, Minh Vượng, Thanh Ngoan (Hà Nội)…trong 4 tiết mục hài. Đức Hải lại vào vai “phái yếu” – một bà già 72 tuổi vẫn chưa có chồng trong “già kén kẹn hom”. Không kể những miếng hài thô tục kiểu như: “lui ra – làm lệch của người ta mất rồi”… không thể gây cười, kiểu dáng “giả gái” của anh đã đến mức nhàm chán. Người ta thấy, dường như Đức Hải chỉ có thể gây cười nếu hóa thân thành người khác, và nếu thế thì anh sẽ không “trụ” được lâu ở sân khấu hài. Minh Vượng và Quốc Khánh đến với khán giả bằng tiểu phẩm “Vợ chồng dzởm”, kể về một nhà văn trẻ được đi nước ngoài với điều kiện phải “kèm bà vợ dzởm 40 tuổi, làm tài vụ đi cùng”. Tiếng cười từ đây khi những mâu thuẫn phải đóng giả vợ chồng phát sinh mặc dù Quốc Khánh là gương mặt hài mới (dẫu anh từng đóng rất nhiều phim và chính kịch) song bên cạnh cái sôi nổi, dí dỏm của Minh Vượng; cái tưng tửng, “như không” của anh khiến họ thành đôi bạn diễn ăn ý tuyệt vời, đem tiếng cười đến cho khán giả. Song, thành công nhất có lẽ phải kể đến tiết mục của 3 nghệ sĩ từ Thành phố Hồ Chí Minh. Thật không khổ danh là những “cây cười” xuất sắc khi cả 3 rất đều tay, diễn xuất rất có duyên, kẻ tung, người hứng được khán giả đồng cảm chia sẻ để cùng có tiếng nói chung là phê phán thói say xỉn. Từ chiếu chèo, Xuân Hinh và Thanh Ngoan đến với hài, vẫn áp dụng lối nói giọng hát thái quá khiến cho tiểu phẩm “Karaoke” không cười được. Cứ như một cô gái xinh song vô duyên, có nhiều chi tiết gây cười nhưng thiếu chất trí tuệ nên tiết mục cứ nhàn nhạt, hơn nữa lại quá dài. Hai người thay nhau hát hết bài này đến bài khác cốt để “khoe giọng”, còn chẳng gửi gắm được ý tứ gì.
“Bắc – Nam cùng cười” có ý tốt khi quy tụ diễn viên của hai miền Nam – Bắc. Đây cũng là cơ hội để giao lưu, học hỏi nhau. Lâu nay, người ta vẫn cho rằng: cái hài trong nam thiên về ngoại hình pha trò nhạt nhẽo, còn người Bắc vẫn tự hào với cái hài đầy chất trí tuệ của mình. Song với những được thấy, e rằng giữa hai miền Nam – Bắc đang có sự giao hoán? Phải chăng đã đến lúc những cây hài Bắc cần phải nhìn nhận lại “tiếng cười” của mình?
Ngọc Huyền – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999