Điểm du lịch trên cao ở Thành phố Hồ Chí Minh

Ở vào thời điểm hiện tại, tòa nhà Trung tâm Thương mại Sài Gòn có độ cao nhất Thành phố Hồ Chí Minh. Toà nhà có 33 tầng, nằm ở số 37 đường Tôn Đức Thắng, quận 1. Ở đây, ngoài chức năng cho thuê văn phòng hiện đã có nhiều doanh nghiệp trong nước, quốc tế đóng trụ sở giao dịch thương mại… toà cao ốc này còn là điểm du lịch kỳ thú đối với du khách trong nước và quốc tế đến Thành phố Hồ Chí Minh. Hàng ngày từ 10 giờ sáng tới 11 giờ đêm, từ tầng G, chỉ sau chưa đầy 3 phút bằng thang máy, du khách đã đặt chân lên tầng 32, 33 (hoàn toàn miễn phí). Một khoảng khắc choáng ngợp lập tức cuốn hút du khách bởi toàn cảnh thành phố hiện ra rực rỡ. Dạo một vòng xung quanh tầng lầu, du khách được chiêm ngưỡng cảnh đẹp thành phố ở cả bốn bề. Hướng đông nam là khu trung tâm quận 1 sầm uất với những toà nhà cao tầng hiện đại, vươn sát tới bờ sông Sài Gòn uốn lượn. Hướng đông bắc, bên kia bờ sông là cả một màu xanh mượt mà lựa như lá phổi lớn của thành phố… Nhìn từ trên cao, chuyện nhâm nhi với ly cà phê hoặc các loại đồ ăn uống khác. Tuy nhiên xin nhắc một điều, mọi thứ ở đây không có giá dưới 2,3 đô la. Hàng ngày từ 2h30 chiều, nhà hàng phục vụ theo phương thức trọn gói, 4,5 đô là với người lớn, 3 đô la với trẻ em. Bằng số tiền đó, du khách sẽ được thưởng thức các loại bánh ngọt, đồ uống theo nhu cầu. Với nhiều người dân lao động có thu nhập thấp thì chi phí cho cuộc thưởng ngoạn này tuy rằng cao, nhưng cũng không phải là khó để có được một lần thưởng thức. Xin mách nhỏ: nếu không có tiền bạn vẫn có thể lên và làm một vòng quanh nhà hàng rồi xuống mà không ai bị trách cứ.
Thành phố Hồ Chí Minh: bắt đầu chương trình đón 150.000 khách quốc tế bằng đường tàu biển
Sáng 7-9-1999, con tàu lớn nhất và hiện đại nhất của Hãng Du lịch tàu biển Star Cruises (Malaysia) mang tên Super Star Leo đã đưa 2.000 khách du lịch quốc tế cập cảng Thành phố Hồ Chí Minh, mở màn cho một chương trình du lịch kéo dài từ tháng 9/1999 – 10/2000 do Saigon Tourist phối hợp với Star Cruises tổ chức. Theo chương trình này, hàng tuần 3 chiếc tàu biển của Star Cruises sẽ thay nhau đưa khách du lịch quốc tế tới thăm các điểm du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Nha Trang, Côn Đảo, Phú Quốc, Hạ Long. Thông qua chương trình này, Saigon Tourist dự kiến đón khoảng 150.000 lượt khách (so với năm 1999 là 8.690 lượt và năm 1997 là 3.440 lượt).
A.K – Tuần du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999

Nghe ca Huế trên sông Hương

“Du khách đến Huế, nếu không nghe ca Huế trên Sông Hương thì coi như chưa đến Huế”. Đó là lời phát biểu của rất nhiều người mỗi khi nhắc đến Huế. Thật vậy. Những điều không trông thấy mà chỉ nghe, nghĩ liên tưởng, hoài niệm về Huế cổ xưa chỉ có thể tìm được qua Ca Huế. Qua Ca Huế, du khách có thể trở lại với cố đô với một thời vàng son cùng những dấu ấn văn hóa rực rỡ; những bi kịch của lịch sử gắn với gắn với bao số phận như hiện về qua từng làn điệu. Đêm, Sông Hương rực rỡ ánh đèn. Đêm trên cột cờ ở Phú Văn Lâu, đèn trên cầu Tràng Tiền, cầu Phú Xuân; đèn ở khách sạn Hương Giang…..Tất cả chiếu xuống dòng sông lấp lánh ánh bạc. Sông Hương bao la bắt đầu với một đêm của lời ca tiếng hát.
8 giờ đêm, thuyền rồng rời bến Phú Văn Lâu, ngược dòng đến trước Chùa Thiên Mụ rồi tắt máy, thả cho thuyền lững lờ trôi. Cả con thuyền như một phòng khách sạn sang trọng và ấm cúng. Giọng con gái Huế mượt mà chào mời, lời ca cất lên, tiếng réo rắt của đàn tranh, dập dìu của sáo, ấm áp, ngân sâu của đàn bầu, tất cả như thâu tóm cả không gian. Lòng du khách như say theo nhịp phách với những khúc vui tươi của Cổ Bản, Non nước Hương – Bình, khúc Long Ngâm rộn ràng, giọng ca trong trẻo của Phú Lục…Chúng tôi thực sự bị cuốn hút bởi tiết mục Chầu văn của nghệ sĩ Ái Hoa với những buồn vui sướng khổ của thân phận con người. Rồi giọng ca ấm áp, luyến láy tài tình trong điệu hò mái đẩy, nghe Nam Ai, Nam Bình mà nước mắt cứ muốn trào ra dẫu lòng đâu muốn khóc. Thương cho thân phận của công chúa Huyền Trân hy sinh đời mình vì quốc gia dân tộc, thương cho thân phận lưu đày của vua yêu nước Duy Tân nơi đất khách quê người. Thật nao lòng khi nghe câu mái đẩy:
“Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non”.
Thuyền vẫn trôi lững lờ trên sông, giọng ca của những cô gái Huế vẫn mượt mà bên tai du khách, nhưng thời gian thì như ngưng tụ lại với hoài niệm cổ xưa. Rồi bỗng như vỡ òa ra với nhịp xô “hò giã gạo” những câu hát đối đáp thắm tình trai gái, đưa du khách trở về với không khí sinh hoạt cộng đồng ngày xưa: lam lũ nhưng lạc quan yêu đời.Tình yêu gái trai chân chất mà thơ mộng. Đó phải chăng là nét cốt cách của người Huế.
Chúng tôi thực sự bị cuốn hút bởi những ngón tay uyển chuyển của những cô gái Huế. Mỗi người 4 chiếc ly uống trà, qua bàn tay tài hoa của họ, những chiếc ly đã trở thành những thứ nhạc cụ tuyệt vời.
Không chỉ có cổ xưa. Huế bây giờ cũng thật thơ mộng với “Mưa trên phố Huế”, “Đây thôn Vĩ Dạ”, rồi “Huế thương”, “Người con gái Huế”….qua giọng ca ấm áp, ngọt ngào của Hương Giang, Mai Lê, Kim Oanh….tôi hỏi nghệ sĩ Ái Hoa: “Mỗi tối ca Huế phục vụ du khách các chị được bồi dưỡng bao nhiêu?”…chị cho biết: “Mỗi suất một tiếng rưỡi, được bồi dưỡng từ 25.000 – 30.000 đồng/người. Không nhiều, nhưng thu nhập đều cũng sống được với nghề. Hơn nữa, lại là nghề tay trái mà”. Du lịch Huế là du lịch văn hóa – lịch sử. Vì vậy, bảo tồn và phát huy cái giá trị văn hóa nghệ thuật dân tộc là việc làm luôn được các ngành chức năng ở Huế chú tâm. Ca Huế cũng nhờ đó mà được phục hồi và được xem là một sản phẩm du lịch không thể thiếu trong các tour du lịch mỗi khi ghé Huế.
Nghe ca Huế là một điều thích thú nhưng để hiểu ca Huế, yêu ca Huế hơn, thiết nghĩ cần có những người thật am hiểu âm nhạc lịch sử để hướng dẫn du khách. Ca Huế cần một chiều sâu văn hóa thật sự mới có thể tăng thêm hứng thú cho du khách.
Nguyễn Vân – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(79)1999

Nghịch cảnh du thuyền Huế

Những năm đầu thập niên 90, thuyền rồng là tên gọi dịch vụ chờ khách nghe ca, có hai loại đơn có từ 20 ghế trở xuống và đôi có từ 100 ghế cho khách tùy sáng tạo và tiền vốn của nhà thuyền được sử dụng cho việc kinh doanh về văn hóa Huế, phục vụ cho tất cả những ai yêu thích đến với sông Hương: Ca huế – du thuyền thành nét hấp dẫn du khách và ca Huế – du thuyền thành một nghề làm ăn của một bộ phận người xứ sông Hương. Ca Huế trên sông Hương ngay từ đầu được Nhà văn hóa tỉnh Thừa Thiên Huế xếp vào một trong những giá trị văn hóa phi vật thể cần được bảo tồn và phát huy. Những bài Nam ai, Nam bình được sống lại và thu phục được khách bốn phương.
Ai đến Huế dù là Ta hay Tây là khách giới nghệ sĩ hay doanh nhân đều không bỏ qua dịp xuống thuyền du sông, nghe ca… Và với lượng khách có nhu cầu nghe ca ngày một đông có một vài chiếc thuyền ban đầu hùn vốn làm ra đã không đủ sức để đáp ứng. Thế là một dịch vụ đã mở ra không chỉ cho những ai biết kinh doanh loại hình văn hóa này mà cho bất kỳ ai có nhu cầu, trước hết là những người quen nghề sông nước, những vạn chài có “tư duy” làm ăn vượt quá mốc khai thác rong rêu, cát sạn. Thuyền ngự, thuyền quan ngày xưa được thay bằng thuyền rồng, thuyền cá ngày nay bằng đồng vốn ít ỏi của những kiếp người trôi nổi trên sông. Những con thuyền chở cát, chở rong được tu sửa bằng tiền gán mảnh đất mà Ủy ban Nhân dân tỉnh đã cấp cho họ trong những đợt định cư, hay vay nặng lãi… Vốn là người ít học, quen với các nghề sông nước, buôn bán nhỏ và khai thác cát sạn, đến khi định cư nghề nghiệp của dân vạn đò không ổn định, đời sống kinh tế hầu hết còn khó khăn để rồi lại xuất hiện tình trạng nửa đò, nửa nhà. Đất cứ nhận, thuyền vẫn ở… trước tuy đơn giản của người dân vạn đò, việc sơn sửa con thuyền quen thuộc tí chút hoặc bán luôn đất được cấp để mua thuyền, sửa thuyền… Kinh doanh “thuyền rồng”, “thuyền vua” thành một việc làm béo bở. Và thế là thời của thuyền rồng vạn đò xuất hiện. Sự sai lệch giữa người hướng dẫn du lịch kinh tế và cách suy tính thô mộc của người dân sông nước đã làm cho nét văn hóa phi thể – niềm tự hào của người Huế – về thú du thuyền – bị chao nghiêng. Thẩm mỹ, chất lượng, nét độc đáo và tầm quan trọng hình như không là cái chính trong việc kinh doanh của họ mà chủ yếu là các “tour”. Ban đầu một “tour” từ Huế lên Minh Mạng giá cho khách đi thuê từ 30 đến 400 USD tùy theo thuyền đơn hay thuyền đôi. Còn khách Ta thì thôi – Khách quen giá rẻ, khách rẻ giá lui, khách lúc đắt “chém đẹp”… Cảnh nhà nhà làm thuyền rồng chỉ 2 năm sau đó đã trở thành nỗi nhọc nhằn cho con sông Hương với bao chuyện tranh giành khách. Để thuận tiện nhất cho mình, các ông chủ đò đã tự tiện biến bất cứ chỗ nào dọc sông Hương làm bến đậu. Để cạnh tranh, thay vì tìm cách làm hợp lý như nâng cấp thuyền và chất lượng phục vụ thì các chủ thuyền luôn ra giá hạ. Hạ đến mức nhiều chuyến giá thuyền một “tour” trừ chi phí và hao mòn thì chỉ còn là con số âm. Mỗi “tour” giờ chỉ từ 189, 190 nghìn đồng đến 45 nghìn đồng. Gần 100 chiếc thuyền đậu rải rác trên 12 bến, mỗi bến có nội qui riêng của các ông chủ thuyền chủ bến, đa phần là mù chữ, giá cả các du thuyền độc lập. Vào mùa đông, mỗi chủ thuyền một tháng có thể có từ 7-12 “tour” khách. Mỗi chuyến trừ các khoản chi phí như dầu, tiền bến, cũng còn lại đủ nuôi một gia đình với đời sống ổn định, nhưng sau này do việc kinh doanh tràn lan, một tuần hoặc hơn tuần mới có một chuyến, đời sống của người cầm lái cũng bất ổn. Với tư duy đơn giản của người sông nước, bữa mai lo bữa hôm, họ “bỏ qua” các khâu hao mòn máy móc, thuyền bè: miễn có đồng tiền bát gạo trong ngày. Điều này không chỉ làm nền cho họ quay lại cảnh quần quật khi còn đò phục vụ – dịch vụ cũ, mà còn làm cho những người kinh doanh chính đáng bị ảnh hưởng. Cũng vì thu nhập bất ổn, người thuyền đò dùng thuyền dịch vụ làm nơi cho vợ con luôn nằm sau những tấm màn màu mè là một gia đình vạn chèo với nếp sống còn mông muội, thiếu thốn, thất học tạo nên bức tranh sông Hương hai mảnh tối sáng quá rõ, có thể làm cho du khách có cái nhìn sai lạc về Huế, về văn hoá Huế.
Những thuyền ngự, thuyền quan được bảo tồn trong một môi trường như Huế. Cái uy nghiêm, giá trị xưa của nó đánh đổi giá rẻ. Niềm tự hào của Huế, của sông Hương đang bị đè bẹp bởi một chút sự thiếu quy mô, thiếu nề nếp. Nó không những bảo vệ mà còn đang bị hoen ố dần. Ai đến Huế, sau khi du thuyền nghe ca đều không khỏi thả một tiếng thở dài tiếc nuối.
Có phải ta không thấy hay cố tình không thấy, những tiếng than ấy? Để rồi, từ việc bảo tồn phát huy giá trị văn hóa của dòng sông và hoạt động ca Huế trên sông trở thành những việc làm phá hoại một nền văn hóa Huế mà chỉ riêng Huế mới có.
Làm sao có biện pháp khả thi để giữ lại những gì trong lành cho Huế? Làm sao để tạo được cuộc sống ổn định cho các hộ kinh doanh thuyền du lịch, có bãi đỗ, có đội kiểm soát đường sông? Để du khách đến Huế cảm thấy được may mắn, vinh hạnh hiểu rõ về thuyền ngự, thuyền quan cho đúng nghĩa một thành phố có di sản văn hóa thế giới.
Nguyễn Phước Hương Lan – Tuần du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999

Về việc lập văn bản phòng đại diện, chi nhánh du lịch ở trong nước và nước ngoài

Ngày 8/7/1999, Thủ tướng Phan Văn Khải đã ký Nghị định của Chính phủ số 48/1999/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại và Pháp lệnh Du lịch về Văn phòng đại diện, Chi nhánh của thương nhân và của doanh nghiệp du lịch Việt Nam ở trong nước, ở ngoài nước. Nghị định có 5 Chương, gồm 14 điều.
Theo Nghị định này Văn phòng đại diện của thương nhân của doanh nghiệp du lịch được thành lập ở trong nước, ở nước ngoài để xúc tiến thương mại hoặc xúc tiến du lịch, nhưng không được hoạt động thương mại hoặc kinh doanh du lịch sinh lợi trực tiếp. Chi nhánh được thành lập ở trong nước, ở nước ngoài để hoạt động thương mại kinh doanh du lịch. Một doanh nghiệp có thể thành lập một hoặc nhiều Văn phòng đại diện, Chi nhánh. Trưởng Văn phòng đại diện này có thể kiêm làm Trưởng Văn phòng đại diện khác, nhưng Trường Chi nhánh này không được kiêm làm Trưởng Chi nhánh khác hoặc kiêm làm Trưởng Văn phòng đại diện. Đối với doanh nghiệp du lịch chỉ có doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế được thành lập Văn phòng đại diện, Chi nhánh ở nước ngoài.
Theo Nghị định này các Sở Du lịch (Sở Thương mại – Du lịch) nơi Văn phòng đại diện, Chi nhánh đặt trụ sở chịu trách nhiệm đăng ký thành lập Văn phòng đại diện, Chi nhánh ở trong nước của doanh nghiệp du lịch, Sở Du lịch (Sở Thương mại – Du lịch) nơi doanh nghiệp du lịch đặt trụ sở chính chịu trách nhiệm đăng ký thành lập Văn phòng đại diện, Chi nhánh và bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (có công chứng). Đối với việc đăng ký thành lập Văn phòng đại diện, Chi nhánh ở nước ngoài của doanh nghiệp du lịch thì hồ sơ ngoài đơn, bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp, còn phải có văn bản chấp thuận của Bộ, cơ quan quản lý ngành ở trung ương (đối với doanh nghiệp trực thuộc Bộ, ngành) hoặc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (đối với doanh nghiệp thuộc tỉnh, thành phố) và văn bản chấp thuận của Tổng cục Du lịch (đối với doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế).
Nghị định quy định rõ thủ tục, thời hạn giải quyết việc đăng ký, trách nhiệm của các doanh nghiệp, Văn phòng đại diện, Chi nhánh, thủ tục chấm dứt hoạt động của Văn phòng đại diện, Chi nhánh và trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đối với hoạt động của Văn phòng đại diện, Chi nhánh.
Anh Hậu (Vụ Pháp chế TCDL) – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 1999

2700 tỷ đồng cho dự án năng lượng nông thôn Việt Nam

Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt tổng thể Dự án năng lượng nông thôn Việt Nam do Tổng Công ty Điện lực Việt Nam làm chủ đầu tư. Nội dung và nhiệm vụ của dự án này là xây dựng hệ thống điện trung và hạ thế để cấp điện khoảng 700 xã thuộc 176 huyện của 32 tỉnh ở cả 3 miền Bắc – Trung – Nam nhằm phát triển kinh tế – xã hội các vùng nông thôn, miền núi thuộc những địa phương này. Theo kế hoạch, dự án được thực hiện trong vòng 4 năm, từ năm 2000 – 2003, với tổng vốn đầu tư ước tính hơn 2.700 tỷ đồng, trong đó, vay ở Ngân hàng Thế giới 150 triệu đô la Mỹ là 2100 tỷ đồng để mua sắm thiết bị vật tư, xây lắp, chi phí chuẩn bị đầu tư… Còn lại là vốn huy động trong nước, bao gồm vốn đối ứng từ chủ dự án, vốn từ ngân sách địa phương và vốn của các hộ dân sử dụng điện.
Người nghèo có thể vay vốn để đi làm việc ở nước ngoài
Hiện nay theo yêu cầu của Chính phủ, Bộ lao động Thương binh và Xã hội đang xây dựng một chính sách, cơ chế ưa đãi vay vốn tín dụng cho người nghèo có đủ tiêu chuẩn, điều kiện đi làm việc ở nước ngoài. Đối tượng được hưởng sự ưu đãi này là những người có đủ tiêu chuẩn theo hợp đồng với doanh nghiệp xuất khẩu lao động, ưu tiên người nghèo là đối tượng chính sách, người có công với cách mạng con liệt sỹ, người được hưởng chính sách như thương binh. Việc cho vốn sẽ áp dụng theo cơ chế phù hợp với điều kiện của đối tượng vay, phương pháp vay theo hình thức tín chấp do các đoàn thể như Đoàn Thanh niên, Hội phụ nữ.. đứng ra bảo lãnh. Được biết, mức vay tùy thuộc vào từng bước đi làm việc trên nguyên tắc đảm bảo cho người lao động nộp đủ các khoản lệ phí đặt cọc.
Vịnh Hạ Long
Cho sự hài lòng và tự ngợi ca. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là thu hồi vốn và nhận thấy những mục đích có thể và cân nhắc mà ông Tuấn cùng cộng sự của ông đưa ra. Nhưng quan trọng không kém là xác định những trách nhiệm ở phía trước. Nhiều vấn đề vật chất được mang đến hoặc giải quyết dưới sự giám sát hiệu quả và nhiều biện pháp sẽ được tiến hành nhằm giải quyết những phần lớn của vấn đề còn tồn tại. Thách thức lớn nhất đứng hàng đầu sẽ làm bật chiếc ô bảo vệ che chở cho những thành tố không thấy được nằm trên vi phạm những khu vực được bảo vệ nhưng lại mỏng manh như những hệ sinh thái và môi trường vịnh Hạ Long. Trong khi điều này có thể thu được thành tựu, đối với phạm vi giới hạn, bởi sự rộng hơn của khuôn khổ luật pháp thì giải pháp thực tế vẫn tăng lên và nhận thức của cộng đồng sẽ lớn hơn để nhận rõ tầm quan trọng của nuôi dưỡng và mong đợi không chỉ về tài sản địa lý và tự nhiên mà còn về quá khứ và văn hóa cuộc sống của người dân, trong đó những hoạt động của con người là một thành phần chủ yếu. Huy động sự giúp đỡ của cộng đồng thương mại và đô thị rộng lớn của Vịnh Hạ Long và Quảng Ninh cũng như sự gia tăng số du khách là rất cần thiết nhưng lại gây ra những ảnh hưởng thực tiễn đe dọa đến tương lai và giá trị mang tính toàn cầu của Vịnh Hạ Long. Ban quản lý Vịnh Hạ Long nhận thức đầy đủ về nhu cầu này và đặt nó lên hàng đầu trong những kế hoạch của họ trong tương lai. Bảo tàng sinh thái Vịnh Hạ Long sẽ mang lại một bộ máy để giải quyết vấn đề này. Tóm lại mặc dù thời gian của tôi ở Việt Nam tương đối ngắn, nhưng đã có một ý tưởng lớn hình thành. Tầm nhìn của ông Tuấn và những người lãnh đạo Quảng Ninh với một giải pháp lớn thực sự hoàn hảo. Tôi không nghi ngờ rằng họ sẽ tiếp tục làm tốt và đưa Vịnh Hạ Long lên hàng đầu trong việc quản lý một di sản thiên nhiên thế giới. Tôi xem nó như một vận hội lớn mang lại cơ hội chia sẻ những thách thức trước mắt tại cuộc họp này và tôi mời gọi tất cả những bạn sẽ trở thành thành viên của giấc mơ lớn này.
PV- Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 25(129)2000.

Trình phê duyệt dự án địa đạo Nam Hồng

Ngay trong năm 1998, hàng loạt các biện pháp bảo vệ, chống xuống cấp, tôn tạo và lắp hồ sơ xếp hạng di tích đã được thực hiện. Đã giải quyết 13 hồ sơ xếp hạng di tích, hoàn thành hồ sơ xếp hạng 3 di tích thuộc khu Thành Cổ (Bắc Môn, Đoan Môn, Hậu Lâu). Tiến hành khai quật khảo cổ học các di tích Hậu Lâu thành cổ… phát hiện nhiều hiện vật quý, giám định, lập xong 900 phiếu hiện vật ở di tích Cổ Loa, Ngọc Sơn và các cổ vật gửi Bảo tàng Hà Nội và đề cương sưu tầm. Công việc trùng tu di tích được tiến hành có bài bản hơn nhiều so với các năm trước đây như ở Cổ Loa, Ngọc Sơn, Hồ Văn, Đình Chèm, đình Quảng Bá, chùa Phụng Thánh, Chân Tiên, Yên Mỹ, Ngọc Trục, Thanh Lâm, Đào Thục, di tích Ngọc Hồi, di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Trình phê duyệt dự án địa đạo Nam Hồng, dự án khả thi di tích cổ Loa, di tích nhà tù Hỏa Lò, tiếp tục thi công hạng mục Đài tưởng niệm các chiến sĩ yêu nước và cách mạng. Các dự án tôn tạo di tích Thành Cổ, khu tượng Vua Lê, tượng Quang Trung, nhà Thái Học – Văn Miếu đã được gấp rút hoàn thành để khởi công xây dựng vào năm 1999. Tổng kinh phí đóng góp của nhân dân cho tu bổ nâng cấp các di tích tại địa phương là 8.123 triệu đồng. Lượng khách đến du lịch tham quan các di sản văn hóa Hà Nội trong năm 1998 cũng là một con số khích lệ, 276.760 khách tham quan di tích Văn Miếu, Ngọc Sơn, Cổ Loa, di tích nhà tù Hỏa Lò, 5D Hàm Long, 48 hàng Ngang, đền Bà Kiệu, Phú Thượng 22.580 học sinh của 60 trường phổ thông trung học và trung học cơ sở tới tham quan và dự lễ khuyến học, doanh thu đạt 1.985,77 triệu đồng. Ngoài ra còn có 30 nghìn lượt khách tới tham quan, học tập được các cơ sở miễn phí. Ngoài ra việc bảo tồn các giá trị văn hóa hữu thể, ngành văn hóa thông tin Hà Nội cũng đặc biệt chú ý công tác bảo tồn các giá trị văn hóa vô thể như việc hướng dẫn các lễ hội truyền thống, bảo tồn, phát huy những nét đẹp văn hóa truyền thống. Theo cán bộ lãnh đạo Sở văn hóa thông tin Hà Nội để lễ kỷ niệm 990 năm và 1000 năm. Thăng Long được long trọng hấp dẫn sự ra quân của ngành văn hóa vừa là khởi đầu. Vừa là kết thúc. Những gì cần làm đã bắt tay vào làm. Mọi việc không phải đã thuận buồm xuôi mái. Ngay việc bảo tồn, tôn tạo các di tích văn hóa, xứng đáng với giá trị vốn có của nó cũng đang có nhiều khó khăn. Tuy nhiên năm 1999 ngành đã thực sự coi công tác bảo tồn là công tác trọng tâm của ngành đã tạo được đà nhất định cho công tác này trong năm 1999 và những năm tiếp theo, tiếp tục phấn đấu nâng cấp các di sản văn hóa, nâng cấp môi trường du lịch văn hóa hấp dẫn hơn đối với các du khách đến Thủ đô.
Phạm Thành-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Nhà soạn nhạc sẽ dần viết nên các đoạn nhạc

Khái niệm công nghệ du lịch là một khái niệm đa dạng và vô cùng rộng lớn. Với mục đích thỏa mãn nhu cầu và trải nghiệm du lịch của khách, đòi hỏi việc tổ chức thực hiện từng phần việc riêng rẽ của nói phải có sự nỗ lực tham gia của rất nhiều người. Trong đó, công nghệ lữ hành lại là một nhân tố không thể thiếu và từng bộ phận nhỏ bé của nó đã và đang góp phần đáp ứng và thực hiện được mọi nhu cầu đa dạng của khách du lịch. Có thể ví như sự hình thành của một tour du lịch chẳng khác nào quá trình sáng tác và phổ biến của một ca khúc. Để đưa được một bài hát đến với khán giả đòi hỏi sự góp sức của rất nhiều người, tương tự vậy, một người không thể làm được tất cả mọi việc trong quá trình phổ biến rộng rãi một tour du lịch tới khách du lịch. Giai đoạn khởi đầu của một ca khúc là giai đoạn sáng tác. Nhà soạn nhạc sẽ dần viết nên các đoạn nhạc, kết nối chúng rồi tìm kiếm lời cho bản nhạc của mình. Tiếp theo là quá trình hòa âm, phối khí. Một dàn nhạc hay một ban nhạc sẽ dựa trên ý tưởng của nhạc sĩ để từ đó tìm tòi phong cách thể hiện các khúc. Sau đó, quá trình giới thiệu ca khúc ra trước công chúng khán giả được tiến hành. Để làm được điều đó, nhạc sĩ cần tìm cho mình một ca sĩ. Mọi việc hoàn tất, người ca sĩ bước lên sân khấu, trình diễn ca khúc trước đông đảo công chúng khán giả. Một tour du lịch cũng ra đời theo thể thức tương tự. Trước tiên là giai đoạn lập kế hoạch. Giai đoạn này tour du lịch sẽ hình thành dần trên từng trang bản thảo. Nhà điều hành tour dường như đang làm nhiệm vụ của một nhà soạn nhạc và viết lời. Tiếp đó, tour du lịch được triển khai và từng phần của tour được kết nối một cách nhịp nhàng như quá trình tìm kiếm nhạc cụ để thể hiện nhạc điệu và lời ca. Đó là một trong những công đoạn rất là quan trọng trong âm nhạc cũng như đối với du lịch thì giai đoạn này cũng quyết định rất nhiều đến thành hay bại. Những phần việc cụ thể đó là: Thuê phương tiện, đặt phòng khách sạn, thuê và phối hợp với một công ty lữ hành địa phương… Tiếp đến là quá trình khuyếch trương, quảng cáo tour đó đến các khách hàng tiềm năng để họ biết đến sự tồn tại của tour mới này. Nhà điều hành tour và các hãng du lịch phải phối hợp cùng nhau trong việc quảng cáo sáng tác mới tour du lịch mới của mình. Sau cùng là giai đoạn thực hiện tour du lịch đã sẵn sàng, cần có một ca sĩ thể hiện nó. Sân khấu chính là điểm du lịch, bài ca chính là tour du lịch và người ca sĩ chính là hướng dẫn viên du lịch. Mỗi giai đoạn đều rất quan trọng. Bởi thế trong giai đoạn cuối của một tour, người hướng dẫn có vai trò cốt yếu đến sự thành công hay thất bại của tour đó vì họ chính là người sẽ để lại những ấn tượng có ảnh hưởng rất lớn đến khách du lịch những khán giả của riêng mình.
Nguyệt Ánh-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Đăk Lăk đã lập dự án quy hoạch xây dựng và bảo vệ hồ Lắc thành nơi du lịch sinh thái

Truyền thuyết của người Mơ Nông kể rằng, ngày xưa trời làm hạn hán đất Tây Nguyên khô cằn, sông suối cạn trơ đáy. Có một cậu bé tên là Lắc Liêng đi bắt cá, đi cả ngày cũng chỉ bắt được một con lươn màu vàng nhỏ như chiếc đũa. Thấy con lươn đẹp, lăc Liêng đem về bỏ vào nồi đồng nui, hàng ngày nhanh như thổi, chẳng mấy chốc đã chật cả nồi đồng. Lắc Liêng bèn chuyển lương sang nuôi ở một cái chè lớn. Lươn lớn chật ché. Chẳng biết làm sao, cuối cùng Lắc Liêng đành thả lương ra cho lươn bò đi. Lươn bò mãi, bò mãi tới một vùng đất rộng thì dừng lại đào hang. Từ hang lươn đào, nước vọt lên. Lươn đào càng sâu, nước vọt càng cao, cứ thế nước dâng dâng mãi thành hồ Lắc bây giờ…. Hồ rộng tới 500 héc ta, lớn vào loại nhất nhì Việt Nam. Bao quanh hồ là đất đai rừng núi các huyện Lắc, Krông Bông, Krông Ana màu mỡ. Về mùa mưa nước nhiều, hồ Lắc đổ nước ra Krông Na khi đầu nguồn mưa lớn kéo dài, nước từ Krông Na tràn vào hồ, mặt hồ mênh mông cuộn sóng. Và nó cứ mênh mông như thế ngay cả trong mùa khô hạn. Nhờ có nước, thảm thực vật quanh nó khá là phong phú, những cánh rừng đai ngàn với đủ loại gỗ quý, những bè cỏ tươi xanh trôi nổi trên mặt nước theo gió, lúc dạt vào bờ này lúc dạt vào bờ kia. Những bè cỏ ấy là nơi kiếm mồi lý tưởng cho đủ loại chim. Lũ chim bói cá, cò, diệc nương theo bè cỏ lặng lẽ rình chộp những chú các chú tôm ngờ nghệch. Nơi sâu nhất của hồ về mùa mưa là 8 đến 10 mét, mùa khô trung bình là 5 mét. Vì cảnh đẹp và những lợi ích mà hồ mang lại, từ lâu, hồ Lắc nổi tiếng là chiếc gương trời trên đất Tây Nguyên. Năm 1938, vua Bảo Đại đã cho xây dựng trên một ngọn núi bên hồ về phía huyện Lắc một biệt thự để nghỉ ngơi. Thỉnh thoảng nhà vua với đây săn bắn. Do không được bảo quản chăm sóc, ngôi biệt thự bây giờ đã thành phế tích. Cũng như thảm thực vật quanh hồ bị con người tàn phá, nay đã trơ trụi đi nhiều. Công ty đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, tuyên truyền vận động nhân dân các buôn làng quanh hồ, xây dựng trong họ ý thức giữ gìn trong sạch nguồn nước, xây dựng các công trình vệ sinh cần thiết cho du khách. Do hồ nhiều cá, nhiều đánh bắt cá diễn ra thường xuyên, Công ty đã bàn với chính quyền địa phương ra quy định cấm đánh bắt cá bằng tài liệu nổ. Để giữa cho chiếc gương trời không bị vẫn đục, ủy ban nhân dân tỉnh Đăk Lăk đã lập dự án quy hoạch xây dựng và bảo vệ hồ Lắc thành nơi du lịch sinh thái, số vốn đòi hỏi hơn 100 tỷ đồng việt nam. Dự án còn đang tìm kiếm đối tác đầu tư. Trong lúc chờ đợi, công ty du lịch tỉnh với khả năng có hạn của mình, đã cố gắng biến hồ Lắc thành một địa điểm du lịch hấp dẫn. Để làm được việc đó, Du lịch tỉnh Đắc Lắc đã cho thành lập tại hồ Lắc một chi nhánh, cán bộ công nhân viên quá nửa là người các dân tộc sở tại, được đào tạo bài bản…., xây dựng hai chiếc nhà dài kiểu M’Nông để khách tham quan, nghỉ ngơi. Lúc đông nhất, đêm 30 tháng 4 năm 1999 hơn 300 du khách đã ngủ qua đêm trên hai chiếc nhà dài. Dịp cuối năm, công ty vừa làm xong một nhà thủy tạ trên hồ. giữa một vùng mênh mông trời nước, ngồi trong nhà thưởng thức hơi nức và làn gió của Tây Nguyên, phóng tầm mắt tới những triền núi xa, du khách ngỡ mình đang ở chốn bồng lai tiên cảnh. Tuy nhiên quan trọng hơn tất cả những điều đã kể là việc giữ gìn cảnh quan du lịch, bảo vệ hệ động vật khu vực hồ. Công ty đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, tuyên truyền vận động nhân dân các buôn làng quanh hồ, xây dựng trong họ ý thức giữ gìn trong sạch nguồn nước, xây dựng các công trình vệ sinh cần thiết cho du khách. Do hồ nhiều cá, nhiều đánh bắt cá diễn ra thường xuyên, Công ty đã bàn với chính quyền địa phương ra quy định cấm đánh bắt cá bằng tài liệu nổ, bằng điện và bằng việc kiểm soát cỡ lưới chỉ cho phép đánh bắt những con cá từ 0,5 kg trở lên. Nhờ thế, ở những phần còn lại, hệ sinh thái của hồ được giữ gìn tương đối nguyên vẹn. Thăm hồ Lắc, du khách sẽ được cưỡi voi, đi thuyền độc mộc, xem dệt thổ cẩm, được ăn cơm lam, uống rượu cần, dự lễ hội cồng chiêng, giao lưu với người dân tộc, chiêm ngưỡng đàn cò trên hồ. Hôm nào cũng vậy, cứ đúng 5 giờ chiều, cả ngàn vạn con cò sau một ngày vất vả lặn lội kiếm ăn, rủ nhau bay về đậu trắng cả một dãy núi phía bên kia hồ. Tinh mơ, chúng lại rủ nhau bay đi. Những cánh cò trắng là những chiếc đồng hồ sinh học tuyệt vời giữ cho các buôn làng của Lắc Liêng đời đời yên ổn.
Ngô Xuân Hội-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Vô cùng thương tiếc báo tin đồng chí Phạm Văn Đồng

Thông báo đặc biệt
Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Chính phủ nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Ủy ban Trung ương mặt trận Tổ quốc nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam vô cùng thương tiếc báo tin:
Đồng chí Phạm Văn Đồng, nguyên ủy viên Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Thủ tướng Chính phủ nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Nguyên cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VII.
Huân chương Sao Vàng, Huy hiệu 60 năm tuổi đảng, Sau một thời gian lâm bệnh, mặc dù được các giáo sư, bác sĩ hết lòng cứu chữa, nhưng do tuổi cao, bệnh nặng, đồng chí đã từ trần vào lúc 23 giờ 10 phút ngày 29 tháng 4 năm 2000 tại Hà Nội, thọ 94 tuổi. Đồng chí Phạm Văn Đồng, bí danh là Tô, sinh ngày 1 tháng 3 năm 1906 tại xã Đức Tân, huyện Mô Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Đồng chí tham gia cách mạng từ năm 18 tuổi, hoạt động trong phong trào học sinh. Năm 1926 đi dự lớp huấn luyện tại Quảng Châu do đồng chí Nguyễn Ái Quốc tổ chức và được kết nạp vào Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội. Sau khi dự Đại hội Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội ở Hương Cảng – Trung Quốc, đồng chí trở về Sài Gòn hoạt động cách mạng và bị thực dân Pháp bắt, kết án 10 năm tù và đày đi Côn Đảo, năm 1936 ra tù, đồng chí được trả tự do và ra Hà Nội tham gia hoạt động công khai. Năm 1940, đồng chí vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Hoạt động cách mạng liên tục trên 70 năm, đồng chí đã có nhiều công lao to lớn đối sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Đồng chí mất đi là một tổn thất đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Để tỏ lòng tưởng nhớ và biết ơn đồng chí Phạm Văn Đồng Đồng, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Chính phủ nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam quyết định tổ chức tang lễ đồng chí Phạm Văn Đồng với nghi thức Quốc tang. Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam, quốc hội nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Chính phủ nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Lễ viếng đồng chí Phạm Văn Đồng được tổ chức trọng thể tại Nhà tang lễ số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội, bắt đầu từ 7 giờ ngày 5 tháng 5 năm 2000. Lễ truy điệu bắt đầu từ 8 giờ ngày 6 tháng 5 năm 2000. Lễ an táng đồng chí Phạm Văn Đồng được tiến hành cùng ngày tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội. Cùng thời gian lễ truy điệu tại Hà Nội, tiến hành lễ truy điệu đồng chí Phạm Văn Đồng tại trụ sở Tỉnh ủy Quảng Ngãi. Trong 2 ngày tang lễ đồng chí Phạm Văn Đồng vào ngày 5 và ngày 6 tháng 5 năm 2000, các công sở, các nơi công cộng treo cờ rủ và ngừng các hoạt động vui chơi, giải trí.
Ban Lễ Tang -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Hai bộ phim về Việt Nam của điện ảnh Mỹ

Nhân dịp kỷ niệm 25 năm ngày kết thúc chiến tranh tại Việt Nam, các nhà làm phim Mỹ của hãng American Radio Works, một trong những hãng phim tài liệu lớn nhất nước Mỹ đã phối hợp với một số hãng khác cho ra đời hai bộ phim tài liệu với tiêu đề “Thăm lại Việt Nam” và Việt Nam một đất nước, không phải một chiến trường. Bộ phim thứ nhất dựa trên những đoạn băng ghi âm của một binh sỹ Mỹ đã tử trận ghi lại những nhận xét về cuộc chiến tranh, và đoạn kết nói về nguyên nhân dẫn tới phong trào chống chiến tranh Việt Nam trong lòng nước Mỹ, giúp nhân dân Mỹ nhìn ra sự thật về cuộc chiến. Bộ phim thứ hai nói về cuộc sống đang ngày một đổi mới diễn ra trên khắp mọi miền đất nước của Việt Nam ở cả thành thị lẫn nông thôn do các nhà làm phim của ARW vừa quay tại Việt Nam trong tháng 2 vừa qua. Hai bộ phim này sẽ được chiếu từ 26 tới ngày 30 tháng 4 trên các kênh truyền hình của các thành phố lớn ở Mỹ: Boston, Seattle, Washington, Minnesota, San Francisco, Los Angeles, San Dieogo, New York, Philadephia….
Thành lập nhà trưng bày sản phẩm kinh tế
Vào cuối tháng 4 năm 2000, Nhà trưng bày sản phẩm kinh tế do Trung tâm xúc tiến thương mại Hà Nội tổ chức sẽ được khai trương tại số nhà 397 Tây Sơn trên diện tích khoảng 420 mét vuông, bao gồm chợ thông tin, tập trung và chợ hiện vật trưng bày các sản phẩm hàng hóa của Hà Nội và các địa phương có quan hệ kinh tế – thương mại với Hà Nội. Tham gia giới thiệu vào đây, các doanh nghiệp sẽ được cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình một cách nhanh chóng và chính xác. Như vậy các doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được thời gian các chi phí đi lại truy cập mạng… Nhà trưng bày sản phẩm kinh tế là một mô hình mới, sẽ có sức hấp dẫn cho doanh nghiệp tham gia nhằm tiếp cận nhanh với các thị trường trên toàn thế giới, thúc đẩy quá trình hương mại điện tử ở Việt Nam, giảm được tối đa các chi phí tiếp thị quảng cáo, tìm kiếm bạn hàng.
Khai trương chi nhánh Công ty Du lịch Bình Định tại Đà Nẵng
Vừa qua, Sở Thương mại Du lịch Bình Định, Công ty Du lịch Bình Định đã làm lễ khai trương Văn phòng chi nhánh Công ty Du lịch Bình Định tại 67 Lê Độ – Đà Nẵng. Trong điều kiện nguồn khách đến Bình Định còn hạn chế, việc mở thêm chi nhánh Công ty tại Đà Nẵng sau văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh là việc làm nối dài thêm tầm hoạt động của Công ty trên phạm vi cả nước. Đặc biệt khi Đà Nẵng đã và đang phát triển thành vị trí trung tâm phát triển kinh tế của miền Trung là của ngõ thứ 3 để khách quốc tế vào Việt Nam.
Cần Thơ xe chở khách Du lịch vào Trung tâm tỉnh lỵ không phải xin phép
Theo tin từ Ủy ban nhân dân tỉnh Cần Thơ kể từ tháng 4 năm 2000 các loại xe chở khách du lịch đến Cần Thơ được phép vào thẳng trung tâm tỉnh lỵ, đến các khách sạn mà không chỉnh phải xin phép của cảnh sát giao thông. Song khi các xe chở du khách vào Trung tâm Thành phố Cần Thơ phải di chuyển và đỗ đúng nơi quy định. Chủ trương này sẽ khắc phục tình trạng nhiều khách du lịch phải rời xe đò, xe buýt để đi xe lôi đến các khách sạn ở trung tâm tỉnh lỵ, do các xe chở du khách muốn vào trung tâm Thành phố Cần Thơ phải xin giấy phép của cảnh sát giao thông.
ND-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 25(129)2000.