Rắn huyền thoại

Rắn từ huyền thoại đến cuộc sống tự nhiên, trong huyền thoại cổ Ai Cập, rắn hổ mang thường đối đầu với mãng xà sống dưới nước tên Apohis. Mãng xà này bị mão vương Ha’liopolis chiến thắng. Tại viện bảo tàng Brooklyn (Hoa Kỳ) còn lưu giữ một quyển khái luận về xà loại học của người cổ Ai cập, cho thấy họ hiểu biết đáng kể về các loại rắn.
Từ lâu, nhiều người tin rằng bên dưới hổ Loch Nes ở Scotland (Anh Quốc) có một giống quái vật hiện còn sống. Tuy được thêu dệt qua trí tưởng tượng nhưng dựa theo những gì người ta trong thấy, có thể đó là một loại bò sát, rắn nước.
Thật ra, từ thời thượng cổ, các tàu thuyền thường bắt gặp mấy con rắn biển khổng lồ, nhưng các bằng chứng không được chính xác lắm. Năm 1876, chiếc tàu chạy bằng hơi nước Nestor của Anh phát hiện trong vòng eo biển Malacca một quái vật, đến năm 1897 tàu tuần tiễu Avalanche của Pháp bắt gặp 2 rắn biển trong vùng vịnh Hạ Long, rồi năm sau cũng thấy chúng trong vùng vịnh Fai – tsi – loung. Năm 1947, chiếc tàu trở khách San ta Clara của Mỹ đụng phải một con lươn dài khoảng 15 mét ngoài khơi Bắc Carolina (Hoa Kỳ)…
Tuy loài người không ưa rắn, vì vết cắn của rắn độc có thể làm chết người, nhưng rắn cũng có ích khi ăn chuột và một số sinh vật có hại khác – nên đôi khi người ta nuôi trăn để bắt chuột.
Trong tự nhiên rắn có nhiều kẻ thù. Các loại chim lớn như: Đại bàng, cú hoặc mấy loại thú có vú như nhím, chồn, … đều săn bắn rắn để ăn. Rắn vua (sống ở Bắc và Trung Mỹ) rắn hổ mang chúa ở Châu Á thì chuyên ăn các loại rắn khác.Ở các đại thảo nguyên Châu Phi, có loại chim ưng Serpentaire cao lớn, trên đầu có chùm lông chuyên bắt rắn để ăn. Nó đạp lên lưng rắn, đồng thời dùng cánh đè lên không cho rắn mổ. Nó có thể thả rắn bay lên cao rồi thả cho rơi xuống chỗ đất đá để rắn chết.
Một trong những kẻ thù đáng sợ nhất của rắn là con chồn. Dù là rắn hổ mang, chồn cũng hầu như luôn luôn thắng. Nó tránh né khéo léo và ngoạm vào gáy rắn bằng hàm răng sắc bén khiến hổ không mổ được. Ở miền tây ấn, nó có công làm giảm số lượng rắn tuy nhiều tuy khi nó tấn công cả gà vịt.
Một số người, nhất là đàn châu Á, thích ăn thịt rắn, hoặc dùng ngâm rượu thuốc vì cho rằng chúng chữa được được nhiều chứng bệnh.
Nhiều giống rắn biết ngụy trang và lừa cả địch. Ở rừng Châu Phi nhiệt đới, rắn hổ mang Gabun có màu sắc dễ lẫn với màu sắc dễ lẫn với màu lá cây khô úa. Còn rắn lục và trắn xanh thì dễ lộn lẫn với cành lá mua xanh. Giống rắn ở sa mạc có màu với cát. Rắn cỏ thì giả chết, khi cảm thấy nguy hiểm: nó nằm ngửa, há họng, hà hơi thúi để kẻ thù bỏ đi.
Minh Mạng với cách đặt tên
Minh Mạng với cách đặt tên độc đáo, nhắc tới nhà Nguyễn – vương triều phong kiến cuối cùng của Việt Nam, người ta hay nói tới những biến cố chính trị trong suốt thời gian tồn tại, kinh thành Huế và lăng tẩm đến đài Miếu mạo bên dòng Hương Giang thơ mộng. Nhưng xét khía cạnh văn hóa nổi lên Minh Mạng – một ông vua thông minh, hiếu học, năng động, quyết đoán và ham hiểu biết nhất. Từ khi lên ngôi đến khi mất (1920 – 1940), ông đề ra nhiều chính sách phát triển kinh tế, đào tạo nhân tài, canh tân đất nước, Minh Mạng còn được nhắc đến bởi phép đặt tên có một không hai của ông đối với các hoàng tử con cháu trong hoàng tộc.
Là người tinh thông nho giáo, sung đạo Khổng – Mạnh, Minh Mạng dựa vào nguyên tắc chính danh định phân, đề ra cách đặt tên ghép, diễn bằng Thơ nôm gồm 11 bài trong đó 1 bài “ Đế hệ thi (bài thơ làm vua) có 20 chữ: Miên (phúc dài); Hồng (đẹp); Ưng (hùng mạnh); Bửu (giàu sang); Vinh (công danh sáng lạn); Bảo (khí dũng); Quý (phú quý); Định (quyết đoán); Long (phúc rồng); Trường (vĩnh cửu); Hiền (tài giỏi); Năng (làm việc khuôn phép); Kham (giỏi việc); Kế (nhiều mưu); Thuật (nghe dân); Thế (gia tộc vinh hiền); Thoại (quý báo); Quốc (lấy dân làm gốc); Gia (hoàng tộc huy hoàng); Xương (thiên hạ thái bình).
Toàn bộ bài thơ “Đế hệ thi” là những câu chữ ý nghĩa uyên thâm sâu xa, tốt đẹp. Theo cách này, tất cả con trai của Minh Mạng sẽ bắt đầu lên đế hệ Miên cộng với tên chữ do gia đình đặt con của Miên sẽ có tên là Hồng rồi Ưng … cho đến Xương.
10 bài “Phiên hệ thi” cũng theo quy tắc trên gồm 20 câu bắt đầu tư Tịnh, Hoài, Chiêm, Viên, Ái, Cảnh, Ngưỡng, Mẫu cho đến Thanh, Kha, Nghiễm, Khác, Do, Trung, Đạt, Liên,Trung, Tập, Cát, Đa.
Mục đích giáo huấn của 11 bài này là quy định dòng đế hệ làm vua, dòng phiên hệ có trách nhiệm làm phên dậu bảo vệ đế hệ. Khi ban ra, Minh Mạng nói: “Nhà Chu xưa bói 30 đời làm vua 700 năm; nay dòng Nguyễn Phúc được trời cao soi xét cho hưởng 20 đời làm vua 500 năm chẳng dám mong nhiều. “Từ đó trở đi, các ông vua theo đế hệ có tên: Miên Tông – Thiệu Trị; Hồng; Nhậm – Tự Đức; Hồng Dật – Hiệp Hòa; Ưng Chân – Dục Đức; Ưng Đăng – Kiến Phúc; Ưng Lịch – Hàm Nghi; Ưng Đường – Đồng Khánh; Bửu Lân – Thành Thái; Vĩnh San – Duy Tân; Bửu Đảo – Khải Định; Vĩnh Thuy – Bảo Đại. Như vậy là trong khoảng hơn 100 năm tồn tại, có được 11 người làm vua theo đế hệ đến chữ thứ 5 – Vĩnh tức Vĩnh Thuy Bảo Đại – ông vua cuối cùng bị cách mạng năm 1945 lất đổ.
Những bài thơ “Đế hệ thi” và “Phiên hệ thi” được đặt ra để tranh chấp ngôi vị trong nội bộ hoàng tộc nhà Nguyễn. Theo cách đó, nó đảm bảo đế nghiệp lâu dài cho dòng họ, nhất là khi diễn Nôm nên dễ học, dễ thuộc. Vì vậy, nhắc tới Minh Mạng, chúng ta hẳn sẽ nhớ cách đặt tên ghép đôi độc đáo “Vô tiền khoảng hậu” của ông.
Lệ Tài – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Một số điều cần nói về chuyến tàu tl 1000 quanh hà nội

Sáng chủ nhật, tôi cùng người bạn đến ga Hàng Cỏ để đi du hành quanh Hà Nội bằng tàu hỏa. Đây là một sáng kiến của Công ty Dịch vụ Du lịch đường sắt Hà Nội và chuyến này là chuyến thứ 3 của Công ty. Trời Hà Nội lất phất mưa, sân ga lúc này là 8 giờ kém 15 phút, nhốn nháo rất nhiều trẻ em và người già, họ đều háo hức lên tàu đi ngay.
Đúng 8 giờ tàu khởi hành, chiếc đầu máy cổ lỗ, đen sì vươn vai kéo cả đoàn tàu rời sân ga lên hướng bắc. Chúng tôi may mắn được ngồi ở toa số 2, nội thất trong toa trang bị như tàu S1 với cửa sổ kính rộng ngắm cảnh thoải mái. Tiếng loa thông báo: tàu đang đi qua cầu Long Biên đến ga Gia Lâm rồi lần lượt qua các ga Yên Viên, Cổ Loa, Đông Anh, Bắc Hồng, Kim Lỗ, Phú Diễn, Hà Đông, Văn Điển, Giáp Bát, Hàng Cỏ. Cảm giác của lần đầu tiên được đi tàu, cộng với những đồng lúa xanh mướt lần lượt trôi qua êm đềm, xua đi những ý nghĩ chập chờn, những lời nói xấu về chuyến tàu Du lịch Thăng Long, nào là: “Đi tàu như của trẻ con trong công viên”, “chẳng có gì hấp dẫn cả”… Mặc, tôi vẫn quyết định “cưỡi” tàu hỏa đi xem thực hư. Thoát ra khỏi lũ trẻ con đang nô đùa, chúng tôi đi lên phía trước: toa 2 tầng, toa nhà bếp, toa ăn và toa giường nằm. Phía đuôi là 3 toa ngồi thường như tàu S5 và S7, những ô cửa kính bị mờ đục với lưới sắt chặn bên ngoài nhằm ngăn chặn hành vi ném đá của trẻ chăn trâu, làm cho tầm nhìn của du khách bị hạn chế. Rất nhiều khách đã bỏ chỗ của mình đi tìm cửa sổ thoáng để đứng. Khi thấy cô nhân viên nhà tàu đến cùng với xe bán hàng, mọi người nhao đến mua đồ ăn, uống. Có người nói: “Đi để ngắm cảnh chứ có phải để ăn đâu, mà ngồi toa này thì ngắm cảnh sao được?!”. Thế rồi có người tìm cách mở cửa sổ, nhưng hầu hết cửa sổ kính đều bị khóa. Tôi đến cạnh người đàn ông có vẻ trầm ngâm suy tư với điếu thuốc đứng gần cửa lên xuống, thấy tôi hỏi về cảm giác khi lần đầu đi tàu này, anh vứt ngay điếu thuốc đi và hỏi lại tôi với giọng điệu giận dữ: “Ông là nhà báo hả? Ông xem thế này có khác gì trò đùa!”. Tôi vội thanh minh rằng mình không phải là nhà báo mà chỉ là sinh viên, thấy vậy một bác đứng tuổi nói xen vào: “Tôi cũng không đồng ý với nhà tàu cho chúng tôi ở cái toa xấu như thế này, khác xa quá so với toa trên kia”, rồi bác quay đi nói một mình nhưng mọi người đều nghe thấy: “Thà để ngồi ở toa có ghế gỗ thường mà cửa rộng thoáng thì hơn”… Tôi bần thần đi lên tìm một nhân viên tàu hỏi xem thực tế. Một nhân viên nói với tôi: “Tạm thời chỉ có mấy toa trang bị tốt như toa số 2, Công ty đang nghiên cứu để đầu tư nâng cấp thêm, mà việc ấy là của mấy ông lãnh đạo”. Một chốc, tàu dừng ở ga Phú Diễn, tôi thấy người đàn ông lúc nãy dắt vợ và con xuống đón xe buýt cùng mấy người khác về ga Hàng Cỏ. Ở tòa 2 tầng, chủ yếu là người lớn tuổi và một vài khách ngoại quốc, một vài người ngủ gật. Tiếng loa cất lên báo cho khách biết đã đến ga Hàng Đông, nhưng tiếng loa nhỏ quá. Giá như nhà tàu nên thay đổi cách thuyết minh cho to lên và sau đó xen vào những bản nhạc hoặc bài hát về Hà Nội thì hay biết mấy. Cho dù giá vé tương đối rẻ với nhiều tầng lớp dân Thủ đô, nhưng điều mà khách mong muốn có được từ chuyến đi này là cảm giác thoải mái, làm cho cuộc sống thêm đa dạng và bứt con người ra khỏi công việc hàng ngày. Đa số khách không muốn bị nhốt “trong” những ô cửa sổ kính mờ của toa tàu mà muốn thoáng khí hơn, nhiều khí trời hơn và nếu có thể được, dừng lại đâu đó trên tuyến đường thưởng thức hương vị đồng quê. Hy vọng rằng, những mong muốn kia sẽ được ngành đường sắt và Công ty Dịch vụ Du lịch đường sắt quan tâm nghiên cứu, để trong tương lai không xa, khi cả Hà Nội đang nô nức cho lễ hội lớn 1000 năm Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội, người dân Thủ đô ngàn năm văn hiến sẽ tự hào có được ngày nghỉ cuối tuần đầy bổ ích qua một chuyến du hành quanh Thăng Long – Hà Nội bằng tàu hỏa.
Thăng Long – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 17(181)2001

Du lịch miệt vườn – Phần 2

Trước đây mảnh vườn này là vườn tạp, nhưng từ khi mở rộng tuyến du lịch, ông Tám đã cải tạo thành vườn chuyên canh nhãn. Ngoài thu nhập cho thuê mặt bằng trong ngôi nhà cổ đủ để chi phí trong gia đình, mỗi năm ông Tám thu hoạch khoảng 100 triệu đồng tiền nhãn. Chú Mười Quảng, một ông chủ vườn khác, ngoài mẫu vườn mỗi năm thu hoạch trên 30 triệu đồng, vợ con ông còn làm thêm dịch vụ du lịch, bán những sản phẩm cây nhà lá vườn như: mật ong, rượu rắn, kẹo chuối, mứt dừa… hàng năm thu nhập trên 20 triệu đồng. Nếu ở Thới Sơn có những vùng nhãn chuyên canh bạt ngàn, thì ở Tân Thạnh – Bến Tre có những vườn dừa nghiêng mình soi bóng. Hoa dừa rất có giá trị trong việc nuôi ong. Cô Vân, một chủ vườn còn khá trẻ cho biết với 140 thùng ong, mỗi tháng lấy mật 2 lần, cộng thêm dịch vụ du lịch hàng năm cô cũng kiếm được từ 40 – 50 triệu đồng.
Bến Tre không chỉ nổi tiếng về cây dừa truyền thống, mà mấy năm gần đây còn là cái nôi sinh sản ra những giống mới: Sầu riêng Mon Thoong (Thái Lan), ổi (Malaixia), Sapô (Mêhicô)… đều được du nhập và nhân giống ở đây. Đặc biệt hơn, đây cũng là quê hương của loại bưởi da xanh nổi tiếng. Lần theo sự chỉ dẫn của người dân địa phương, chúng tôi đến nhà vợ chồng anh Bùi Thiện Mỹ, ở xã Mỹ Thạnh An (thị xã Bến Tre). Vợ chồng anh là người có công khôi phục lại tiếng tăm cho loại bưởi da xanh, đã gần như tuyệt chủng. Theo anh Mỹ, thủy tổ của loại bưởi da xanh ở Thanh Tân (Mỏ Cày). Trước giải phóng vợ anh đi ăn giỗ bên ấy, được người bà con tặng cho một cành bưởi về trồng trong vườn nhà. Chiến tranh xảy ra ác liệt cả nhà anh đều bỏ xứ đi lánh nạn. Chẳng còn ai nhớ đến cây bưởi đã trồng ở trong vườn. Sau giải phóng, trải qua bao nhiêu năm tháng chịu sự tàn phá của bom đạn, nhưng cây bưởi vẫn sống, dù rất già cỗi. Anh chị chăm chút chiếc cành trồng lại. Không ngờ trái bưởi mang màu xanh mướt lại có ruột đỏ hồng đào rất đẹp. Hơn thế nữa, nó có vị ngọt thanh lại không bị the như những giống bưởi khác, thế là được sự động viên của bà con anh Mỹ mang bưởi da xanh đi dự thi “Cây ăn quả giống tốt” tổ chức ở Cần Thơ. Sau khi được Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam kiểm nghiệm, trái bưởi da xanh lần đầu tiên xuất hiện giữa hội thi (1996) đoạt giải B (sau bưởi Năm Roi). Từ một loại bưởi chẳng mấy ai biết đến, phút chốc đã lên ngôi và nổi tiếng. Các nơi người ta cứ đổ xô đến để nài nỉ mua cho được nhánh bưởi giống, dù giá khá cao: 50.000đ/nhánh. Bưởi da xanh có giá trị cao về năng suất, chất lượng cũng như xuất khẩu. Mỗi cây (7 năm tuổi) có thể cho từ 150-200 trái/năm. Giá mỗi trái từ 20.000-30.000đ. Người dân Bến Tre rất tự hào về giống bưởi da xanh này. Họ ví nó như nàng công chúa ngủ trong rừng, mấy mươi năm mới được đánh thức.
Tìm hướng ra cho cây ăn trái đặc sản không chỉ mang lại nguồn lợi kinh tế từ thu hoạch trái cây mà còn mở ra những điểm du lịch đặc biệt hấp dẫn du khách ở vùng sông nước có nhiều tiềm năng này.
Trần Đồng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 16(181)2001

Du lịch miệt vườn – Phần 1

Các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 2.000 ha cây ăn trái. Riêng tỉnh Tiền Giang chiếm tỷ lệ cao nhất hơn 40.000 ha. Tiền Giang lại là cửa ngõ của các tỉnh đồng bằng, rất lợi thế trong việc liên kết với các tỉnh bạn để mở rộng phạm vi du lịch mang bản sắc miền quê, sông nước. Nói đến Tiền Giang, ta nghĩ ngay đến chuối Mỹ Tho, xoài cát Hòa Lộc, cam Cái Bè, vú sữa Lò Rèn (Vĩnh Kim).. Về Bến Tre, ta sẽ không quên được trái dừa ngọt lịm, chôm chôm Java và sầu riêng Cái Mơn. Một vườn cây đẹp để khách có thể tham quan, không những bảo đảm về mặt kỹ thuật cây trồng mà còn phải bảo đảm về chất lượng của quả. Bởi du lịch miệt vườn hàng năm thu hút một số lượng khách khá lớn, trong đó khách nước ngoài chiếm tỷ lệ 60 – 70%. Giới thiệu cây ăn trái đặc sản của từng vùng cũng là một trong những cách tiếp thị tốt nhất để đưa trái cây Việt Nam hội nhập với thế giới.
Du ngoạn trên sông Tiền
Chúng tôi rời bến tàu du lịch (thành phố Mỹ Tho) với chiếc du thuyền 15 chỗ ngồi. Thuyền băng băng rẽ sóng làm những giọt nước trắng xóa bắn tung tóe bám vào mặt, mang đậm mùi phù sa tạo cho tôi cảm giác thoải mái. Nằm giữa làn nước mênh mông là những vùng đất cồn trù phú của Thới Sơn, Tân Long, Tân Qui… được mệnh danh là vương quốc của trái cây. Rất may mắn, chúng tôi đến kịp lúc triều lên nên có thể đổi thuyền nhỏ để đi Rạch Miễu (Bến Tre). Địa danh nổi tiếng không chỉ về cây ăn quả và còn nổi tiếng về mặt lịch sử. Rời đất Bến Tre, chúng tôi lại đến với cù lao Thới Sơn trên những chiếc đò chèo. Cô chủ đò trông thật duyên dáng trong chiếc áo bà ba. Hai mươi phút trên chiếc đò bé xíu (chở 3 người) đối với tôi là thời gian thú vị nhất. Chúng tôi được đi dưới vòm lá dừa rợp mát, ngắm nhìn những buồng dừa nước trĩu quả, những trái bầu xanh treo lơ lửng trên cành…
Du lịch xanh hướng cho nhà vườn
Môt vùng sông nước mênh mông hình bán nguyệt nơi hội tụ của 4 cù lao đã được thiên nhiên tạo lập. Người ta gọi đây là vùng sông nước tứ linh với cái tên “Long, Lân, Quy, Phụng chầu ngọc”.
Vùng nước hình bán nguyệt chính là hòn ngọc quý giữa trời được bốn đầu cồn là Tân Long, Thới Sơn (Cồn Lân), Cồn Phụng và Cồn Quy (rùa) chụm vào che sóng gió quanh năm.
Ngoại trừ Cồn Quy mới hình thành mấy chục năm cuối thế kỷ, ba cồn còn lại đều đã có lịch sử gần trăm năm. Trên đó, là những vườn xanh tươi bốn mùa hoa trái ngọt thơm, bướm say ong lượn, nhà cửa xinh xắn, cư dân hiền lành, nhiệt tình, hiếu khách. Do được hình thành từ đất phù sa của sông Cửu Long lại được tưới bằng dòng nước ngọt lành nên trái cây ở đây có mùi vị ngọt thơm đặc biệt. Nếu bạn uống nước dừa xiêm thì cảm giác mát ngọt đến tận ruột gan. Nếu ăn nhãn lồng, nhãn tiêu ngón tay bạn còn dính nước cốt như keo mút mãi vẫn còn ngọt, chôm chôm đỏ chín vàng, cùi cắn ngập răng, mận hồng, mận đỏ mận da xanh… ăn vào vừa giòn vừa mát tưởng không bao giờ chán.
Đến cồn Thới Sơn, chúng tôi tham quan vườn cây cảnh, ăn 5 loại trái cây đặc sản và thăm những ông chủ có vườn cây ăn trái. Đến ngôi nhà có kiến trúc cổ của ông Tám, chúng tôi rất mê vườn nhãn hai mẫu của ông. Những hàng nhãn thẳng tăm tắp, với tán xòe rộng, đang cho trái.
Trần Đồng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 16(181)2001

Cưỡi tàu hỏa xem vành đai Hà Nội – Phần 2

Rồi họ tỏ ra thích thú thật sự. Trải qua hàng trăm năm bào mòn của mưa gió, chức chắn những đoạn thành đã không còn hùng dũng như xưa. Có một thời, đua nhau san thành để làm ruộng, lấy đất đóng gạch. May là ngành Văn hóa Thông tin đã ngăn chặn kịp, để rồi những gì đang còn hiện nay, đã trở nên vô cùng quan trọng đối với khu du tích Cổ Loa. Khu du tích này là một trong những công trình được ưu tiên đầu tư tôn tạo tiến tới kỷ niệm 100 năm Thang Long Hà Nội. Một vị khách đã luống tuổi ao ước: “Giá tàu đổ lại để mình được trèo lên thành lát thì hay nhỉ”. “Được sẽ đáp ứng được nhu cầu đó” – Tất cả đều hướng về người và trả lời bằng câu khẳng định. Đó là Giám đốc Trung tâm điều hành hướng dẫn du lịch của Công ty DVDL Đường sắt Hà Nội Trần Tất Chủng. Anh cho biết thêm: “Rồi đây tàu sẽ đỗ những điểm cố định, để khách có thời gian thăm quan một số điểm du lịch, các di tích, công trình kiến trúc như thành Cổ Loa, công viên Cầu Đôi, cầu Thăng Long, các làng nghề truyền thống… Tất nhiên, rất cần sự ủng hộ của chính quyền địa phương, cùng tham gia đầu tư xây dựng các điểm dừng và hệ thống cung cấp các loại hình dịch vụ”. Tôi thầm nghĩ : “Khi những dự định đó trở thành hiện thực, chắc chắn thời gian của chuyến hành trình sẽ kéo dài hơn, có sức hấp dẫn mạnh hơn…”
Đoàn tàu thong thả luồn theo tầng dưới của cây cầu Thăng Long. Nếu chỉ ngồi trong tàu, rõ ràng du khách không thể thấy vẻ kỳ vĩ của cây cầu lớn nhất nước này. Tôi chợt nghĩ tới cái đài quan sát có từ khi xây dựng cầu, lâu nay vẫn đang bị bỏ hoang ngay đầu cầu phía nam. Nó có thể trở thành nơi ngắm cảnh lý tưởng cho du khách mỗi khi tàu dừng lắm chứ. Đem ý nghĩ này treo đổi với Giám đốc Công ty Nguyễn Văn Mậu, anh cho biết: “Vừa hoạt động, chúng tôi vừa tiếp tục khảo sát, tìm hiểu nhu cầu du khách. Để nâng cao chất lượng phục vụ và tính năng hấp dẫn, chắc chắn ngành đường sắt sẽ còn phải đầu tư thỏa đáng cho chuyến du lịch này.”
Trước khi kết thúc hành trình, tôi có dịp làm quen với André Paillard, một du khách đến từ nước Pháp. Ông cho biết: “Tổ chức tour quanh vành đai Hà Nội là sự lựa chọn hợp lý của các bạn, tôi rất thích chuyến đi này. Tuy nhiên, cần đều chỉnh một số điểm dừng để cho khách ngắm cảnh và chụp hình, ví dụ trên cầu Long Biên hay thành Cổ Loa chẳng hạn. sẽ thú vị hơn nếu những toa tàu cổ nhất được chục chế và đưa vào sử dụng nó rất hợp với chiếc đầu máy hơi nước hiện nay, không nhất thiết phải cùng với những toa xe sang trọng trên tuyến đường ngắn như vậy. Đây là sự khởi đầu tốt đẹp”.
Vâng, ít nhất đó là sự khởi đầu đáng khích lệ. so với một số trò chơi cao cấp hiẹn nay, để có hành trình dài hơn ba tiếng thăm các vùng xen đô, thì giá vé 20.000 đồng cho người lớn, 10.000 đồng cho trẻ em vẫn được coi là rẻ. và trong lúc Hà Nội đang còn thiếu nững điểm vui chơi giải trí, sự ra đời của tàu du lịch Thăng Long cùng hành trình thăm các vùng ven đô, sẽ có ý nghĩa biết bao đối với nhu cầu giải trí của nhân dân thủ đô và du khách trong những ngày nghỉ cuối tuần.
Bùi Hỏa Tiễn – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 11 (176) – 2001

Cưỡi tàu hỏa xem vành đai Hà Nội – Phần 1

Chiếc đầu máy hơi nước đen sì hú lên hồi cồi lanh lảnh, phả ra từng làng khói trắng, rồi cựa mình, chầm chậm rồi kéo cả đoàn tàu rời khỏi sân ga…Ngay khoảnh khắc đầu tiên này, tôi bỗng nao nao nhớ một chút về quá khứ. Đó là thời cuộc sống của người Hà Nội dường như không thể thiếu những hình ảnh và âm thanh tương tự, mỗi khi có đoàn tàu hối hả vào ra thành phố. Tội nhận ra rằng mình đã gặp may, khi trở thành trong số gần 400 du khách đầu tiên của tuyến du lịch vòng quanh thế vành đai Hà Nội, trên chuyến tàu khai thông toàn tuyến. Chẳng cứ gì những du khách trên tàu, nhiều người Hà Nội hình như cảm thấy ngỡ ngàng khi nhận ra con tàu vừa lạ, vừa quen.
Tàu du lịch Thăng Long được hình thành theo ý tưởng của ngành Đường sắt, nhằm tăng cường những đoàn tàu chuyên phục vụ khách du lịch trên các tuyến tham quan ngắn. Tàu gồm nhiều toa sang trọng, do chính người Việt thiết kế, chế tạo. trong đó có toa xe 2 tầng đầu tiên được đưa vào chạy thử. Theo dự tính tàu sẽ phục vụ du khách mỗi tuần một chuyến vào 8 giờ sáng chủ nhật, tiến tới tăng thêm một chuyến vào sáng thứ bảy. Ngoài ra, sẽ có những chuyến phục vụ theo hợp đồng thuê bao và bất cứ thời gian nào trong tuần. tàu chạy theo hành trình: Ga Hà Nội, qua các ga Gia Lâm, Yên Viên, Cổ Loa, Đông Anh, Bắc Hồng, Kim Lỗ, Phú Diễn, Hà Đông, Văn Điện, Giáp Bát rồi trở về ga Hà Nội.
“Cầu Long Biên đây rồi”, tiếng reo khe khẽ bật ra từ nhóm du khách trẻ, khiến cô gái hướng dẫn viên cho du khách Nhật Bản như được dịp thể hiện. tôi không hiểu cô nói gì với du khách, chỉ thấy chiếc máy ảnh trong tay họ nháy lên liên hồi. Sông Hồng hôm nay đẹp lắm. Những con thuyền nhỏ xinh xắn trôi đi dưới làn mưa bụi, tựa như sương giăng mờ ảo. Kể từ ngày được “nghỉ hưu”, cây cầu già trên trăm tuổi như càng đưối sức hơn. Người ta mãi bàn, mãi tính về số phận của nó mà dường như quên mất sự xói mòn của thiên nhiên khắc nghiệt. Trong khi đó, nó vẫn cõng hàng chục chuyến tàu hỏa mỗi ngày… Đã có lúc những người làm du lịch muốn đưa cây cầu Long Biên lịch sử trở thành điểm du lịch quan trọng, thế nhưng chưa biết xoay sở ra sao. Nghe nói vừa rồi, một nhóm các nhà tư vấn của Pháp đã sang bàn bạc và hứa giúp chúng ta kiên cố hóa cây cầu này theo đúng hình dáng cũ. Quả là một tin vui, nhưng tính sơ bộ cũng hết khoảng 100 triệu đô la (gấp hơn hai lần so với xây dựng mới bằng bê tông) xem ra chưa ai ms hứa hẹn ngày “cụ” cầu Long Biên được: “Cải lão hoàn đồng”.
Chẳng mấy chốc, bên ngoài con tàu, cái không khí náo nhiệt của đô thị được thay bằng cảnh thanh bình của làng mạc ngoại thành. Những cánh đồng lúa xanh mướt, đương “thì con gái” nhìn thật sướng mắt… Nếu không có một thời ấu thơ tại vùng này, chắc chắn tôi không thể khẳng định với người bạn đồng hàng rằng, cái “con đê” đứt quãng kia lại chính là một đoạn còn lại của thành Cổ Loa nmổi tiếng. Sau một thoáng ngỡ ngàng, những người khách du lịch quốc tế cũng kịp nhận ra những gì người hướng dẫn viên đang nói.
Bùi Hỏa Tiễn – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 11 (176) – 2001

Bóng núi và núi – Phần 3

– Thế đấy. Tôi thủ thỉ với đường đèo. Thôi cho ta tránh mọi hiểm họa, tai ương. Đừng biến đường đèo thành cái tha ma dọc. Đừng chi chit nữa những bát hương gọi hồn ai xấu số.
– Ừ Gió Hải Vân thổi ngoặt lại như bẻ gẫy. Con đường “ừ” mà như nấc lên. Thôi nếu cuộc ly biệt vì hạnh phúc của con người. Ta bình tâm chịu vậy. Đỉnh đèo vẫn vụ sắp đủ một cơn mưa. Tôi đứng dậy. Bóng núi nhòa mờ đã lâu mà tôi không biết.
Hải Vân chợt mưa rồi chợt nắng Vừa mới nắng nhòa hơi nước đã qua quẻ nắng tươi. Nắng chia từng vạt nhỏ vì tan mưa chứ không tan mây. Mây in bóng mình lên lưng núi. Núi nghiêng vai in bóng xuống con đường. Cảnh quan này tồn tại trước ý tưởng một đường hầm xuyên núi đến triệu triệu năm. Con người làm sao tạo được. Đó là cuộc gặp gỡ của các tác giả Mặt trời, Đại dương và Đât núi. Tôi đã một đời mê đắm những gập ghềnh, khúc khuỷa. Tôi đã dẫn vào thơ tôi: “Suốt miền Trung sông suối dày tơ nhện – Suốt miền núi Trung núi choài ra biển – Nên gập ghềnh câu lý ngựa ô qua.”**
Cây lý ấy cũng còn phải bước gập ghềnh nhưng một thế kỷ tương lai của công cuộc chấn hưng đất nước mà gập ghềnh sao được.
Xe của du lịch Đà Nẵng đã đúng hẹn lên đèo đón tôi.
– Còn việc chi nữa không bác?
– Xong. Xong rồi . Hình như tôi vô ý. Miệng nói xong mà mắt chẳng chịu rời bóng núi. Như bóng núi đang nhoài về phía tôi.
– Bây giờ, giám đốc của chúng con mời bác ra Huế chơi. Rồi bác sẽ quay vô Đà Nẵng để đáp tàu về Hà Nội.
– Ừ, cảm ơn giám đốc của các bạn. Tôi muốn vậy nhưng chỉ em phiền.
– Có chi mô bác.
Xe đỗ dần xuống triền núi Bắc. Trong bối cảnh của cuộc chia tay sắp diễn ra ở mấy năm đầu thập kỷ thứ nhất của thế kỷ 21, tôi nhìn từng nhan sắc núi mà thương. Rồi địa chỉ đèo sẽ được thay thế là địa chỉ hầm. Rủ nhau lên đèo. Cum từ ấy nhiều thi cảm. Chắc tất cả các thành viên của ngành giao thông có cùng tôi ý nghĩ lãng mạn này. Nhưng tất cả, kể cả các thi sĩ đều phải tiến sâu vào ruột núi mà nghe giai điệu khoét hầm cam go và hùng tráng.
Tôi bồi hồi nhớ đến Trịnh Tố Tâm khi đổ dốc Lăng Cô để tiến dần ra đèo Phước Tượng. Tôi muốn dừng xe một lát ở quãng có cái bóng núi che choán mát rượi cả lòng đường.
– Có bạn bạn nào biết quả looang boong không?
– Dạ , quả chi nghe lạ rứa bác? Tôi kể chuyện 51 lần mai phục gài mìn, chập kíp của Trịnh Tố Tâm đánh tàu hỏa Mỹ, xe quân sự Mỹ xuống đèo ra Huế.
Những cơn đói cơn khát của Tâm được làm dịu bớt nhờ quả núi trên đèo. Tôi chỉ nhớ được tên gọi một thứ quả long boong. Nhân viên du lịch, lái xe du lịch Đà Nẵng nghe kể chuyện và ăn nếm chùm quả long boong vui vẻ lắm. Tôi cũng vui lây.
Tôi sẽ giữ lời hứa. Năm nào đã thông hầm Hải Vân cho xe qua, tôi sẽ khấn mời Trịnh Tố Tâm về. Ngồi trên xe vút qua chắc tôi và hương hồn Trịnh Tố Tâm sẽ dìm cơn khát bằng nước khoáng Vital chứ không phải quả long boong này.
* Các vị vua chúa, chí sĩ danh tài đã có chữ đề, thơ phú về Hải Vân quan.
** Lý ngựa ô ở hai vùng đất – Thơ PNC (chú thích của biên tập).
Phạm Ngọc Cảnh – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Bóng núi và núi – Phần 2

Ở dưới chân đèo, tôi háo hức. Leo lên đỉnh, tôi dặn mình hết sức bình tâm. Tôi đang gắng miêu tả cái nghĩ của con người. Không hồ đồ được. Tôi tìm bóng núi. Trời đang xế nắng sang chiều. Bóng núi nghiêng xuống mặt đường như mái nhà che tôi. Tôi nhìn xuống mặt đường quốc lộ hồi lâu rồi bắt chuyện.
– Người định bỏ ta sao? Con đường lên tiếng.
– Đành phải thế. Tôi lặng người đi. Cuộc tình người lữ khách và con đường mấy trăm năm. Ít gì đâu. Tôi nhìn sang mấy cái bát hương sát mép núi, sát rệ đường như di chúc buồn của những người xấu số.
– Rồi người chui vào ruột núi. Vèo nhanh như chớp mắt. Liệu còn ngoái lại nhìn ta.
Bóng núi dồn câu than trách ấy. Tôi không là ông Nguyễn Xuân Đào. Ông là Viện trưởng của một viện quan trọng của Bộ Giao thông. Ông trả lời là đủ sức thuyết phục. Vậy mà tôi còn được đọc những giai điệu trầm bổng của ông. Ông phải cầu viện âm nhạc giảng giải giúp những gì khoa học kiệm lời. Ông Đào còn vậy nữa là tôi. Tôi nghiêng về lớp người ưa tỉ mẩn đếm, nhâm nhi nhìn. Nhìn con sông Đà thì không nhìn kỹ lắm chỗ nước xoáy nghiền ra điện sáng mà ưa liên tưởng sóng sông Đà vồ vập vào gấu váy Quỳnh Nhai. Nhìn cây cầu trên sông Bến Hải lại ưa đếm tổng số ván lát cầu là số lẻ. Biết vậy để thôi thúc cái số chẵn hàn gắn nhanh vết chém. Chia cắt ở Hiền Lương. Tôi không là ông Nguyễn Ngọc Trân. Ông Trân dẫn dắt các vụ án PM U85 ra hiện thực cầu đường ở Miền Trung. Bến thủy rồi Hiền Lương, Quán Hàu. Ông cũng là nhà lãng mạn. Những khúc chiết chặt chẽ. Tôi lại là tôi, tôi và những sợi mây, sợi khói đang tích dần làm mưa kia cứ muốn tìm cơ hội để nghe nhau.
Tôi đang ngồi trên đỉnh núi. Bốn năm nữa, còn mấy ai đến ngồi. Ngày ấy tất cả đều đi lối khác. Bỏ lối qua đèo để hun hút qua hầm.
– Tôi vẫn thủy chung với người đấy thôi. Tôi ngắt một ngọn cỏ may. Chơi trò làm cái ằng – ten âm dương để nói với con đường.
Mới năm ngoái, giá còn đường nhớ lịa cảnh ông Thứ trưởng Bộ giao thông Phạm Quang Tuyến đứng giữa đường đèo mà chỉ huy cuộc vá víu cấp tốc cho x echo người thông qua. Ông Tuyến, các kỹ sư giao thông , thợ cầu, thợ đường, cảnh sát không ai dám khóc. Chỉ trời khóc đầm dề. Khóc thành bão, going, tai họa. Mà xứ sở quê ta, nhất là dọc tuyến miền Trung trời và đất vốn là người đẹp, dễ mủi lòng, mau nước mắt. Lại nữa, xa trước là cảnh êm hòa. Có mưa có bão cũng rơi vào đúng kỳ, đúng tiết . Mưa thì đã phân ra 7 tiết mưa phùn, mưa rào, mưa ngâu, rươi… Chúng ta ước đoán gần sát để dè chừng. Giờ chưa qua vũ thủy đã gió mưa tối trời, thối đất. Giờ đã vượt qua đông chí vẫn nơm nớp nhìn trời mà lo. Lũ quét rồi lũ dầm. Lũ dâng rồi lũ ứ.
Phạm Ngọc Cảnh – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Bóng núi và núi – Phần 1

Bốn năm nữa, chắc tôi còn được thắp hương khấn gọi Trịnh Tố Tâm về. Cứ cho là đến ngày đó Tâm vẫn chỉ là Thứ trưởng Bộ Thương binh Xã hội, Tâm sẽ mời tôi cùng vào dự lễ mở đường hầm Hải Vân. Ba mươi năm trước, trên Trường Sơn ở đỉnh cao một nghìn bốn trăm bảy mươi hai mét, tôi được Quân khu phân công viết sách bản thành tích đánh tàu, đánh xe của Trịnh Tố Tâm ở quãng đèo Hải Vân mái bắc. và dồn góp từng trận, từng chiến công thành tượng đài để Trịnh Tố Tâm ở quãng đèo Hải Vân mái bắc. Và dồn góp từng trận, từng chiến công thành tượng đài để Trịnh Tố Tâm bước lên với tư thế dũng sĩ rồi anh hùng quân đội.
Tôi còn nhớ một đoạn do mình viết giúp Tâm… “Tàu hỏa của Mỹ ngụy từ Đà Nẵng sắp ra. Mắt tôi (Trịnh Tố Tâm) chú vào cái lỗ đường hầm đen xì. Bỗng chiếc HU1A rà thấp một vòng đứng khựng trước mặt. Phải đuổi bọn này đi kẻo tàu ra, đánh sao kịp. Máy thằng Mỹ cứ nhởn nhơ, trâng tráo trên đoạn dây nối ra quả quả mìn đã gài. Phải liều chạy ra thôi. Tôi nghĩ nhanh. Tôi đái nhanh ra đám tro cây lá đốt trụi. Xoa nhanh thứ bột tro ấy lên mặt, lên ngực. Tôi chạy xuống đồi…
– Ê! Vi xi – làm gì ở đây?
– Oe, oe, oe… Tôi hoa múa chân tay.”
Tâm đóng vai câm. Nhớ là trước khi đi bộ đánh Mỹ, tâm đã trúng tuyển vào đoàn kịch Tổng cục chính trịn. Nếu ông thân sinh ngày ấy không thành kiến, không coi nghề ca hát, kịch tuồng là xướng ca vô loại thì Trịnh Tố Tâm đã là diễn viên, là nghệ sĩ.
Những tên lính Mỹ ngày ấy cũng lố ngố ham chơi. Chúng bắt tâm lùa hết đàn bò lại để chụp ảnh một Vi xi câm rồi lên máy bay cút thẳng. Tâm nối vội dây mìn. Và …
Tôi cầm lá thư của ông Vũ Phạm Chánh gửi ông Nguyễn Ngọc Trân. Hai ông ở hai ngành của giao thông Việt Nam ráp mối thông tin để tôi có chuyến vào Hải Vân. Trước hay sau lễ khởi công 20 tháng 8 năm 2000 là tùy tôi thu xếp.
Tôi ghé vào cơ quan của ông Trần. Cơ quan quản lý dự án PM 485 này luôn bận rộn. và Giám đốc Nguyễn Ngọc Trân là sự bận rộn của tất cả các đầu mối có liên quan. Ông Trân ra Hà Nội. Cơ quan của ông mời tôi nán lại Vinh mấy bữa để chờ ông về. Tôi ôn lại những gì đã được nghe ở đây về dự án đường hầm qua Hải Vân. Tôi còn nhớ được cả mái tóc bạc sớm của Nguyễn Ngọc Trân xoa lên những bản vẻ như mây trên đèo. Điều nhớ được và liên tưởng lãng mạn như thế là đủ. Còn thừa chút đỉnh là khác . Nguyễn Ngọc Trân vốn là con đẻ của đất Hà Tĩnh. Ông mơ ước sau Hải Vân sẽ khoét luôn hầm qua Đèo Ngang.
Tôi mở tiếp cuộc độc hành từ ga Vinh. Ngoài cửa sổ toa tàu, thấy trên đường quốc lộ , các loại máy xúc máy chuyên dụng làm đường nối đuôi nhau đi về hướng Nam. Qua ga Đồng Hới tôi mới rõ Máy móc ấy, các đạo quân giao thông ấy rẽ lên Trường Sơn – Lễ khởi công Đường Hỗ Chí Minh đã diễn ra ở bến Xuân Sơn rồi. Tôi đi tiếp. Muốn dừng lại ở Huế rồi từ đó mượn đường quốc lộ mà tiến vào chân núi ở Lăng Cô. Lại muốn từ Đà Nẵng ra Liên Chiểu rồi leo tiếp lên đỉnh đèo. Tôi tham lam trong việc chọn đường. Bởi chọn hướng nào lên cũng đẹp “Thôi mỗi người chỉ được hưởng một phần lộc trời, lộc đất ban cho Cái Duyên vào trang viết còn ở mình. Cứ dần dà rồi gặp hết. Miễn đừng nhãng nhạt. Đừng lạnh tắt sức đam mê.
Tôi nhớ người của ngành Du lịch Đà Nẵng dẫn ra chân đèo. Thời kinh tế năng động, ngành nào cũng muốn tiếp thị, quảng cáo vào tôi. Du lịch Đà Nẵng “khoe” công trình khai phá mới ở Bà Nà – Núi Chúa. Làm sống lại khu nghỉ mát của Tây có từ đầu thế kỷ 20. Thú vị nhất là tôi được mời lên chop nhọn của núi chúa bằng cáp treo. Vậy là trong khi tôi đang tưởng tượng ra đường hầm xuyên núi rộng 12m, cao 7m50 như đường xuyên địa phủ lại được bồng bềnh thăng thiên ằng cáp treo lên Núi Chúa – Bà Nà.
Tôi tìm được một chỗ trọ trên đỉnh đèo. “Các nhà khảo sát còn ở được cả tuần. Mình ở vài đêm. Có sao! Họ khúc xa địa chấn. Mình thăm dò tâm thức con người. Phía nào chẳng công phu”. Tôi hẹn với Du lịch Đà Nẵng sau hai ngày hai lên đón. Họ gửi lại nhà trọ cho tôi một thùng lương thực đủ sống ba ngày. Tôi cứ nghĩ là mình được bằng ấy là tuyệt đối rồi. Lại nghĩ khi vua lê Thánh Tông, Chúa Nguyễn Hoàng, nhà chí sĩ Nguyễn Xuân Ôn qua đèo , dừng lại trước Hải vân quan có rềnh rang, nhiều khê như thời nay không? Tôi liếc qua thùng lương thực nuôi tôi trên đèo. Có đủ từ cái tăm tre đến hộp thuốc xịt muỗi.
Phạm Ngọc Cảnh – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Giới thiệu đặc sản

Chim mía Xuân Phổ
Cá bống sông Trà
Kẹo gương Thu Xà
Mạch nha Mộ Đức
Chỉ 4 câu vẻn vẹn 16 chữ người bình dân đã giới thiệu cả 4 đặc sản nổi tiếng của Quãng Ngãi, gắn bó với những địa danh tiêu biểu nhất. Về đặc sản cá bống sông Trà, có thể kể đến những câu ca dao rất hay khác, như:
Phải đâu chẳng nói mà xiêu
Tại con cá bống tại niêu nước chè
Nước chè lá Minh Long sắc đặc phải nói là rất ngon sau mỗi bữa cơm có món cá bóng sông Trà kho tiêu. Người bình dân đã chọn chuyện tình duyên đôi lứa để làm đòn bẫy bật lên sức hấp dẫn của đặc sản. Cũng với kiểu như vậy, với don, một đặc sản bình dân lại có câu:
Con gái còn son
Không bằng tô don Vạn Tượng
Có người nói rằng so sánh như vậy là quá đáng. Sao có thể con gái còn son không bằng tô don vạn tượng? Sao lại so sánh người với một thứ thức ăn, dù là thức ă đặc sản? Ngẫm lại thì đây không phải là sự so sánh. Nó là lối nói nhấn (thậm xưng) rất thường thấy ở ca dao xưa. Cũng như câu phải đâu chàng nói mà xiêu … chỉ cốt để tạo ra cho lời nói có ấn tượng mạnh, có màu sắc không ai suy diễn ra rằng cô con gái xem chuyện tính duyên của mình không bằng một món ăn. Với lối nói thậm xưng người bình dân giới thiệu đặc sản của mình với một niềm tự hào không cần giấu diếm song vẫn giữ được sự tế nhị gấp nhiều lần kiểu quảng cáo “húc, húc, đầy sức mạnh!’ Bởi ca dao giới thiệu đặc sản với một tấm lòng trong sáng còn dạng tiếp thị thế kia thì lại chưa thấy dấu ấn văn hóa, dù nó ra đời trong một thời hiện đại văn minh.
Một chút trào lộng nhưng vẫn luôn trong sáng người bình dân còn có câu khá vui:
Nghèo thì nghèo, nợ thì nợ
Cũng kiếm cho được con vợ bán don
Một chút chua chát, người dân kể chuyện tình lặt lẹo trắc trở do không môn đăng hộ đối mà vô hình chung lại giới thiệu được cái giá trị của đặc sản mắm nhum:
Sớm mai anh ngủ dậy
Anh súc miệng
Anh rửa mặt
Anh xách cái rựa quéo
Anh lên hòn núi Quẹo
Anh đốn cây củi công queo
Anh than với em cha mẹ anh nghèo
Đôi đũa tre yếu ớt không dám quèo con mắm nhum
Quãng Ngãi là xứ mía đường, nên dễ hiểu là ca dao cũng đề cập nhiều đến đường, mía đặc sản:
– Ở đây mía ngọt đường nhiều
Tìm trai xứ Quảng mà yêu cho rồi
– Nước mía ngọt cũng thắng thành đường
Anh thương em thì anh biết chớ thói thường ai hay
Cũng cần biết xưa kia có nơi đặt ra lệ phạt người bẻ trộm mía để ăn, nên mới có cái hoạt cảnh khôi hài này:
Mía ngọt tận đọt
Heo béo tận lông
Cổ thời mang gong
Tay cầm lóng mía
Vừa đi vừa hít
Cái đít sưng vù
Chuyện mía lan sang chuyện đường với nhiều loại đường đặc sản như đường cát: “Thiếp gửi cho chàng, một cục đường rim , một tìm đường cát”, đường phổi: “Bậu về nhớ ghé Ba La, mua cân đường phổi cho ta với mình”, đường phèn: “Thơm ngon như món mạch nha, ngọt qua đường phổi thơm qua đường phèn…”. Cũng có thể kể, ngoài hải đảo Lý Sơn còn có bánh ít lá gai nổi tiếng (dù chưa phải là một đặc sản nổi bật ở đây) với câu ca dao có mô – tuýt quen thuộc” “Muốn ăn bánh ít lá gai lấy chồng hải đảo sợ dài đường ghe”. Trên nguồn thì có đặc sản quế Quãng nổi tiếng ở Trà Bồng, song lại gắn với ý niệm xa xôi, cách trở: Lựu tìm đào, đào chẳng tìm lê, lên non tìm quế, quế về rừng xanh”. Quế Trà Bông cũng vang danh không kém chị mía đường:
Ai về Quãng Ngãi
Cho tui gửi ít tiền
Mua dùm miếng quế lâu niên
Đem về trị bệnh khỏi phiền bà con
Giới thiệu đặc sản, ca dao luôn quyện với tình người, quyện với những sinh hoạt rất đời thường, rất tự nhiên, thuần phác, dân dã, cho nên có thể ca dao về đặc sản cũng là một… đặc sản có khí vị riêng. Trong thử thách khắc nghiệt của kinh tế thị trường, có lẽ niềm hy vọng chung của mọi người là được thưởng thức cả ca dao lẫn những đặc sản, những khí vị rất riêng của từng vùng đất. Vâng sẽ rất chán nếu đi đến vùng đất nào cũng chỉ thấy những sản phẩm toàn cầu như Pepsi Cola, Coca Cola…
Lò đào tạo diễn viên bốn chân
Đó là nơi không xa Paris, do nhà huấn luyện thú Đieuone làm chủ. Hơn ba năm nay cơ sở đào tạo chó và mèo cho các phim trường trong và ngoài nước hơn 100 “diễn viên bốn chân” theo yêu cầu của nhiều bộ phim.
Điêuone cho biết: Tìm giống chó hoặc mèo để huấn luyện thành diễn viên là vấn đề khó, nhưng khi nó đã thành tài thì người huấn luyện cảm thấy thật hạnh phúc vì nó cũng có những tính cách giống như người làm đôi khi ta phải giật mình suy nghĩ.
Cao Chư – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001