Những người ăn Tết muộn

Vườn thú Hà Nội rộng 21 ha là một “địa chỉ đỏ” về vui chơi giải trí ở thủ đô Hà Nội. Theo ông Nguyễn Thế Chấn – Trưởng phòng Hướng dẫn viên Du lịch (HDVDL) của vườn thú cho biết: “Từ đầu năm đến nay, lượng khách đến Vườn thú tham quan rất đông, chủ yếu là học sinh, trẻ em Hà Nội và các tỉnh “Bình thường” một tháng là một vạn lượt người. Một năm vườn thú đón 1,5 đến 1,7 triệu du khách”.
Sở dĩ có nhiều khách đến tham quan vườn thú vì ngoài các loài động vật quý hiếm như gà lôi, lam trắng, cầy vằn, voi khỉ, hổ, báo, hươu sao… Khung cảnh của vườn mát mẻ thoáng đãng. Cỏ cây được cắt tỉa cùng với các loài hoa rực rỡ sắc màu. Ông Vũ Đức Ninh – Trưởng phòng Kế hoạch vườn thú cho biết “Vào dịp Tết , lượng khách đến tham quan vườn thú Hà Nội tăng gấp hai lần so với ngày thường”. Có ngày cao điểm như mùng 4 và 5 Tết lên tới 3 vạn người”. Để chuẩn bị đón Tết, năm nào Vườn thú cũng đề ra hoạch trước đó 2 tháng. Công việc được bắt đầu triển khai từ ngày 15/12. Các chuồng thú xuống cấp được sửa sang vét vôi vệ sinh sạch sẽ. Đường vào vườn cũng được lát gạch sáng bóng. Do tính chất đặc thù, công việc của mỗi bộ phận có một nhiệm vụ khác nhau. Bà Nguyễn Thị Hiệu người đã 18 năm gắn bó với đội chăm sóc hoa tâm sự “Không được nghỉ Tết, chúng tôi rất buồn song vì công việc hơn thế nghĩ mình đang đem đến niềm vui cho mọi người là chúng tôi cũng thấy vui trong lòng”.
Có thể nói mấy chục năm nay cán bộ và công nhân viên Vườn thú Hà Nội không hề được đón Tết trọn vẹn cùng gia đình. Để chuẩn bị cho Tết cổ truyền năm 2001, ngay từ bây giờ Vườn thú Hà Nội đã lên kế hoạch nâng cao chất lượng các điểm phục vụ. Có 30 điểm vui chơi giải trí nằm rải rác trong vườn. Các công trình kiến trúc như nhà cửa, chuồng trại và hạ tầng cơ sở bị hư hỏng đã được cán bộ phòng kỹ thuật duy trì bảo dưỡng. Sở giao thông công chính đã đầu tư kinh phí 80 triệu đồng từ nay đến Tết cho việc sửa sang chuồng thú và các công trình phục vụ Tết.
Bên cạnh đó việc tổ chức kinh doanh dịch vụ cũng được chuẩn bị chu đáo ở hai cổng chính ra vào.
Vườn thú có 100 loài với 600 cá thể, nên các nhân viên của đội chăn nuôi phải chuẩn bị tết cho thú trước rồi mới đến gia đình mình. Họ mua đầy đủ thức ăn lương thực, thực phẩm gạo, ngô, khoai, thịt … dự trữ sẵn trong 2 ngày 30 và mùng 1 tết. Ngoài ra, họ còn luân phiên nhau chăm sóc kiểm tra và bảo vệ thú đêm 30, mùng 1 và mùng 2 Tết. Ông Võ Huy Triệu Trưởng phòng kỹ thuật có 30 năm gắn bó với nghề nuôi động vật tâm sự: “Ngày Tết việc chăm sóc thú lại càng bận rộn hơn nuôi con mọn. Việc chăm sóc rất khó, toàn thú quý nên chúng tôi phải chú ý nuôi dưỡng tốt để có đàn chim thú khỏe đẹp đem ra trưng bày phục vụ nhân dân trong dịp tết cổ truyền dân tộc”.
Vào những ngày Tết, lượng khách đến Vườn thú rất đông, nên đội ngũ công nhân bảo vệ cũng được tăng cường: người soát vé , người bảo vệ cửa ra vào, người trông xe giữ xe cho khách, người giữ gìn an ninh khu vực… Ngoài thời gian làm việc ban ngày họ phải trực cả đêm mỗi đêm có tới 100 người. Đặc biệt, đêm 30 tết, họ phải căng ra để bảo vệ, ngăn chặn tệ bẻ cành hái lộc đầu xuân. “Bận rộn như vậy, Vườn thú tổ chức đón tết cho anh chị em vào lúc nào?” Thấy tôi hỏi, ông Vũ Đức Ninh tâm sự: “Ngày 25/ 12 tết, lãnh đạo Vườn thú có tổ chức họp mặt cán bộ công nhân viên chúc Tết trước. Đêm 30 Tết vào lúc giao thừa, các đồng chí lãnh đạo, bộ phận bảo vệ và những người trực đêm liên hoan giao thừa. Ngày 5 Tết có đông đủ anh chị em đi làm, chúng tôi mới tiến hành chúc mừng năm mới theo tục lệ cổ truyền.
Cảnh ăn Tết muộn của những cán bộ, nhân viên Vườn thú Hà Nội bất giác khiến chúng tôi liên tưởng tới cái Tết muộn của vua Quang Trung và binh sĩ ra giải phóng kinh thành Thăng Long năm xưa. Chỉ khác, những cán bộ, nhân viên Vườn thú năm nào cũng phải ăn tết muộn.
Đỗ Bình Minh – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Làm gì để ngăn chặn tình trạng tùy tiện giảm giá phòng khách sạn ?

-Ông Richard Kaldor, Giám đốc Acoor Việt Nam: “Biện pháp cơ bản nhất là cân đối cung – cầu”
“Tôi tin rằng quyết định ban hành cơ chế quản lý giá nào đi chăng nữa, về trước mắt cũng như lâu dài sẽ phản tác dụng cho việc phát triển du lịch ở Việt Nam. Những cố gắng nhằm thống nhất đằng sau một cơ chế như vậy có lẽ tốt hơn là dồn vào việc quảng bá ngành du lịch của chúng ta trên trường quốc tế.
Nếu định đề ra một giá sàn tối thiểu, khi đó sức cung và cầu sẽ vận hành theo cách chống lại trước hết là các nhà đầu tư nước ngoài và các chủ đầu tư trong nước – những người đã gắn bó lâu dài với đất nước, với ngành khách sạn bằng việc xây dựng các khách sạn liên doanh ở đây. Mỗi chủ đầu tư, mỗi giám đốc khách sạn cần có cách kiểm soát vị trí của họ trên thị trường để có thể tự đề ra quyết định về việc làm sao bán được phòng và bán với giá nào trong một thị trường rất mềm như hiện nay. Việc định giá đó để cho những người điều hành khách sạn quyết định và tất nhiên nó được trợ giúp bởi biểu thức đơn giản của thị trường – đó là cung và cầu”.
-Ông Nguyễn Văn Đính – Khoa Du lịch, trường Đại học Kinh tế Quốc dân: “Nhà nước không nên quy định giá phòng khách sạn”
Chúng tôi cho rằng: Nhà nước (Tổng cục Du lịch, Sở Du lịch, Sở Thương mại – Du lịch) không nên và cũng không thể quy định giá dịch vụ lưu trú cho các khách sạn….Nhà nước chỉ có thể quy định giá hoặc hướng dẫn giá sàn, giá trần trong các trường hợp sau: sản phẩm “đặc biệt” hay mang tính “Quốc kế dân sinh”, sản phẩm Nhà nước độc quyền sản xuất, phân phối; sản phẩm do doanh nghiệp Nhà nước sản xuất ra. Mà sản phẩm của khách sạn không phải là “Quốc kế dân sinh”, cũng không phải Nhà nước độc quyền và khách sạn Nhà nước cũng chỉ chiếm tỷ lệ chưa đến 50%….
Nhà nước cần kiểm tra thường xuyên, nghiêm túc chất lượng của các khách sạn đã đăng ký kinh doanh theo các tiêu thức đã xác định, buộc các doanh nghiệp luôn luôn giữ vũng chất lượng, tránh được tình trạng giảm giá để cạnh tranh; kiểm tra cả các hãng lữ hành (đặc biệt là lữ hành quốc tế), nhằm tránh tình trạng đua nhau hạ giá, giảm chất lượng chương trình; Nhà nước có thể tạo điều kiện để các khách sạn có thể giảm chi phí bằng cách giảm giá cước bưu điện, thuế, giá điện….Có biện pháp xử lý thích đáng với doanh nghiệp trốn lậu thuế.
-Ông Võ Phi Hùng, Sở Du lịch Thừa Thiên – Huế: “Quản lý giá sàn nhưng cần kiểm soát chặt chẽ”
“Ở Thừa Thiên – Huế, đã tiến hành họp các chủ doanh nghiệp khách sạn thuộc mọi thành phần kinh tế, tất cả đều nhất trí cần quy định giá sàn. Nhưng phải có biện pháp quản lý chặt chẽ: Thành lập đoàn kiểm tra liên ngành gồm Du lịch, Tài chính, Thuế….đến từng khách sạn để đánh giá chất lượng bằng cách cho điểm. Từ đó làm cơ sở đưa ra giá sàn. Xếp từng nhóm khách sạn theo đặc thù cụ thể định giá theo nhóm.
Xây dựng mạng tin học với các doanh nghiệp khách sạn với các cơ quan quản lý như: công an, thuế….nhằm kiểm soát chặt chẽ hơn. Bên cạnh đó thường xuyên tổ chức kiểm tra đột xuất nhằm ngăn chặn tình trạng gian dối, trốn lậu.
Thành lập Hiệp hội khách sạn, trong đó các thành viên đóng góp một khoản tiền nhất định làm quỹ khen thưởng, quỹ này được bổ sung bằng tiền phạt những doanh nghiệp vi phạm….”
-Ông Đỗ Văn Hoàng – Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn: “Hiệp hội khách sạn là cần thiết”
“Trước mắt để giảm tính cạnh tranh về giá trị, cần thành lập các Hiệp hội du lịch khách sạn….Sự hoạt động của Hiệp hội nhằm đoàn kết, bảo vệ quyền lợi của các thành viên, bảo vệ giá trị của các sản phẩm, đảm báo giá phản ánh đúng giá trị và đảm bảo giá trị sử dụng cho khách hàng, tránh lạm dụng công cụ giá để cạnh tranh, không được chào bán giá phòng và giá dịch vụ dưới mức chi phí thực tế của phòng và dịch vụ đó. Các Hiệp hội mạnh sẽ là nhịp cầu nối liền giữa các cơ quan quản lý Nhà nước và doanh nghiệp, thông tin nhanh nhất những chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước cũng như phản ánh được tâm tư, nguyện vọng của các doanh nghiệp và tình hình thực tế, để các cơ quan quản lý Nhà nước có thể điều chỉnh các chính sách kịp thời, phù hợp”.
P.V – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

1001 tình huống trong đời hướng dẫn viên “Đi tìm chỗ ngủ”

Tôi nhớ lần đi tour Tây Bắc. Đoàn chúng tôi gồm có 5 người khách, tôi làm hướng dẫn, cùng một lái xe tuổi cùng với tôi.
Khách có 5 người thì chỉ có một phụ nữ. Bà ta là Maria, vợ ông Gecmano, trưởng đoàn, người Italia. Bạn của Gecmano là Giuseppe, tính tình hiền lành, vì bệnh đau dạ dày hành hạ nên người xanh xao gầy còm, trong túi lúc nào cũng có ít bánh mì, phó mát hay bánh quy. Một người khách nữa tên là Tonio, người lùn, để râu quai nón, trông giống diễn viên phim hài ta thường gặp. Nhân vật thứ năm trong đoàn tên là Franco, cao to, đẹp trai, trông ra dáng trí thức. Quả là phong cảnh miền núi hấp dẫn quyến rũ khách. Mỗi khi gặp cảnh đẹp hoặc lạ mắt, ông Gemano lại bảo lái xe cho dừng lại. Thế là cả đoàn xuống xe, lích kích máy ảnh, máy camera vừa quay, vừa chụp. Thăm xong Mai Châu, đoàn tiếp tục lên đường. Nói chuyện với nhau mãi, cả đoàn cất tiếng hát làm xao động cả một vùng rừng núi.
Rời Mộc Châu rồi Yên Châu, đến sẩm tối chúng tôi cũng tới thị xã Sơn La. Nằm giữa lòng chảo vùng Tây Bắc của Tổ quốc, Sơn La quả cũng dễ làm say đắm lòng người. Giống như các vị khách, tôi cũng lên Sơn La lần đầu. Tìm đến khách sạn, tôi bảo anh bạn lái xe cho xe đỗ lại, tôi vào chỗ lễ tân khách sạn. Trong sân la liệt xe các loại. Chà, không ngờ đây mà cũng đông khách như thế sao. Tôi nói với lễ tân tên đoàn và đề nghị bố trí phòng cho bạn. Cô gái phụ trách lễ tân trông xinh xắn như bông hoa núi cười rất duyên bảo tôi: “Xin lỗi anh, hôm nay khách sạn của chúng em hết phòng rồi, anh thông cảm tìm nơi khác. Lần sau nhất định chúng em sẽ dành phòng cho các anh.” Tôi ớ người ra, bảo là Công ty ở Hà Nội đã Fax báo đặt phòng rồi cơ mà. Cô gái vẫn giọng dễ thương nói như hát: “Vâng. Chúng em có nhận được Fax, nhưng hôm qua khách sạn có Fax xuống Hà Nội vì trường hợp đột xuất đặc biệt, nên các khách sạn Sơn La trong hai đêm sẽ không đón khách du lịch”. Tôi không còn hiểu thế nào nữa. Bây giờ biết trả lời cho khách như thế nào đây. Lúc ấy, Giám đốc khách sạn cũng ra chỗ lễ tân. Cô gái nói nhỏ với Giám đốc, và anh ta, với tác phong lịch sự, ra bắt tay tôi, hỏi thăm tình hình đoàn và bảo: “Rất tiếc, hiện nay có cuộc họp của các bí thư tỉnh ủy các tỉnh phía Bắc nên tất cả các khách sạn ở thị xã Sơn La theo yêu cầu của Tỉnh ủy phải phục vụ cho khách Hội nghị. Lần khác, hy vọng thế nào chúng tôi cũng được hân hạnh phục vụ các anh”. Lần khác là bao giờ, còn đêm nay, chúng tôi sẽ cho khách ngủ ở đâu ? Tôi hỏi thăm các khách sạn ở thị xã, thì nghe trả lời những cái kha khá đều hết chỗ. Thấy tôi không trở ra, ông Gecmano đi vào tìm tôi. Tôi phải kể rõ sự tình, do có hội nghị đột xuất, nên các phòng phục vụ khách khách Hội nghị. “Vậy chúng tôi sẽ nghỉ đêm nay ở đâu ?”. Tôi thấy nỗi băn khoăn thể hiện rõ trên nét mặt ông. Nhưng biết làm thế nào, lần đầu tiên dẫn một đoàn khách sang trọng phải đi tìm chỗ ngủ. Tôi bảo Gemano cứ lại xe nghỉ ngơi, tôi sẽ lo liệu. Tôi hỏi mấy nhân viên khách sạn có cách nào giải quyết được mấy phòng ngủ không ? Mấy người cũng thật thà, nói rằng ở thị xã khách sạn đếm trên đầu ngón tay, chỉ một hội nghị với dăm bảy chục khách là kín chỗ. Đang lúc băn khoăn, thì có một chàng trai nhân viên khách sạn tới chỗ tôi bảo: “Nhà em có một nhà mới xây, vài năm trước cũng kinh doanh khách sạn mini. Nhưng vì vắng khách nên định xoay sang kinh doanh mặt hàng xe đạp, xe máy. Hiện tại còn bỏ trống. Nhưng bây giờ bề bộn lắm. Phải bỏ sức ra dọn dẹp mới có chỗ ngủ. Còn giá cả không thành vấn đề. Anh cho bao nhiêu cũng được”. Nghe bùi bùi tai, tôi trở ra chỗ khách bảo anh lái xe cho khách vào quầy bar có gì ăn tạm lót dạ, tôi đi theo chàng trai lo chỗ ngủ cho cả đoàn. Chàng trai chở xe máy đưa tôi về nhà mình. Quả là một căn nhà rộng rãi, xây ba tầng. Nhưng trông bề bộn, lỉnh kỉnh nào vôi vữa, gạch ngói, xi măng. Bây giờ biết còn đi đâu ? Thế là tôi bảo chàng trai gọi thêm người dọn các phòng bố trí cho khách ngủ đêm nay. Khoảng một tiếng rưỡi mới tạm ổn. Tôi bảo chàng trai ra nói với Giám đốc khách sạn ban nãy mượn khăn trải giường, gối đệm cho khách. Và tôi cũng quay ra đón khách. Tôi bố trí cho vợ chồng Gecmano ngủ ở tầng hai, phòng bên cạnh cho Tonio và Franco. Còn ông Giuseppe khốn khổ thì phải ra phòng khách ngủ cùng tôi trên ghế sa lông. Màn cũng khó mắc. Tôi trông Giuseppe thân hình gầy còm, người quấn nêm trắng quanh mình vừa tức cười, vừa thương hại. Rồi đêm cũng sẽ qua đi, bình minh ngày mới lại đến. Sáng hôm sau gặp nhau ai cũng hỏi: – Ngủ có ngon không ? Và câu trả lời: – Rất ngon, không còn biết trời đất gì nữa. Cơm sáng xong, cả đoàn lại vui vẻ lên đường, tiếp tục cuộc hành trình đi Điện Biên Phủ.
Nguyễn Thắng – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Tưng bừng hoạt động lễ hội năm 2000

Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Ban chỉ đạo Chương trình hành động quốc gia về du lịch, năm 2000, đã đánh dấu một bước phát triển đặc biệt về Du lịch lễ hội của Việt Nam, trong đó Tổng Cục Du lịch đóng vai trò quan trọng và đã trực tiếp chỉ đạo công tác tổ chức nhiều sự kiện văn hóa và lễ hội truyền thống. Khởi đầu của năm 2000 là sự kiện văn hóa “Hội xuân Du lịch – Văn hóa Việt Nam năm 2000”, sự kiện có quy mô không lớn nhưng đã được các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước quan tâm cổ vũ, động viên, khuyến khích cán bộ, nhân viên trong ngành Du lịch. Tiếp sau đó còn có các sự kiện văn hóa liên hoan du lịch Hương sắc Miền Nam, Tuần Du lịch Văn hóa Hội An – Hành trình từ quá khứ, 990 năm Thăng Long Hà Nội, và gần hai chục lễ hội truyền thống từ Bắc Chí Nam, của đồng bào người Việt, đồng bào Chăm, đồng bào Khmer… đã diễn ra sôi động từ tháng hai đến tháng 11 năm Canh Thìn. Mở màn cho các lễ hội truyền thống là lễ hội Chử Đồng Tử – Hưng Yên và kết thúc là lễ hội tưởng niệm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm – tỉnh Hải Phòng. Trong số đó, phải kể đến những lễ hội được sự quan tâm của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân cả nước như lễ hội Đền Hùng ở Phú Thọ, lễ hội đền Kiếp Bạc ở Hải Dương, lễ hội Trường Yên ở Ninh Bình, lễ hội Lam Kinh ở Thanh Hóa… Những lễ hội này không những có quy mô lớn hình thức tổ chức đã kết hợp nghi lễ truyền thống và hiện đại tạo cho hoạt động lễ hội phong phú hơn, trang trọng và hoành tráng hơn. Thông qua các sự kiện văn hóa – lễ hội có thể nói chưa bao giờ ngành Du lịch Việt Nam tạo lập được một hình ảnh đẹp đẽ và gây ấn tượng sâu sắc cho người dân mọi miền như năm 2000. Hầu hết các lễ hội đã được các phương tiện thông tin ở địa phương và trung ương tuyên truyền tin, bài trước trong và sau lễ hội, công tác tuyên truyền đã đóng góp rất lớn cho sự thành công của chương trình. Dù chưa có một cuộc tổng kết chính thức để nhìn lại quá trình tổ chức các sự kiện văn hóa – lễ hội trong năm 2000, nhưng có thể rút ra được nhiều nhận xét và kinh nghiệm đối với công tác tổ chức lễ hội văn hóa. Tổ chức lễ hội là một hoạt động rất hợp lòng người. Những người dân ở các địa phương nơi diễn ra lễ hội đã nô nức chờ đón sự kiện từ nhiều tuần, nhiều tháng trước ngày lễ hội khai trương. Điều chúng tôi đã mắt thấy tai nghe ở một số địa phương là nhiều cấp, nhiều ngành trong Đảng cũng như chính quyền đã ra Nghị quyết, xác định mục tiêu, phương hướng cho lễ hội, thông qua đó nhằm đẩy mạnh thi đua, đoàn kết, sản xuất, khôi phục, và duy trì nếp sống văn minh, thuần phong mỹ tục của địa phương mình. Nhiều nơi, bà con đã vui lòng hy sinh cả những vườn cây lưu niên để mở đường vào hội. Nhà nước nô nức đóng góp người, đóng góp tiền, vật tư, dành thời gian để tập dượt chuẩn bị đón khách thập phương… cốt sao cho lễ hội được diễn ra đúng thời gian tôn nghiêm, hữu ích, vui tươi lành mạnh. Đặc điểm của lễ hội năm 2000, Ban tổ chức của tất cả các lễ hội đặt vấn đề tiếp đón khách thập phương trẩy hội lên hàng đầu và cũng bước đầu lo nơi ăn, chốn ở, đối tượng tiếp đón, người hướng dẫn đến các công trình vệ sinh môi trường, tổ chức hàng quán bán hàng, đồ lưu niệm… Khâu chuẩn bị lễ hội chu đáo hơn, bài bản hơn. Ban tổ chức nhiều lễ hội đã nhân dịp này tập hợp những người có kinh nghiệm, tâm huyết để sưu tầm, khai thác tư liệu trong thư tịch cổ, trong dân gian bổ sung nhiều tài liệu quý cho sử liệu của lễ hội. Các lễ hội đã xây dựng được kịch bản, khâu thiết kế, trang trí mỹ thuật, dàn dựng chương trình đều có kế hoạch và thực hiện chu đáo. Người dân ở địa phương được phổ biến công khai, cơ quan chức năng nghiên cứu chỉ đạo cụ thể? Đây là một bước chuyển biến quan trọng, tạo tiền đề đưa hoạt động lễ hội vào nề nếp, đảm bảo sự cân đối giữa đời sống tinh thần và đời sống vật chất cho nhân dân, đồng thời ngăn ngừa được những hiện tượng tiêu cực phát sinh từ hoạt động lễ hội. Việc tổ chức các sự kiện văn hóa – lễ hội cũng là dịp để các cơ quan ban ngành ở địa phương cũng như trung ương thể hiện sự phối hợp hành đồng Du lịch, văn hóa – thông tin, Công an, giáo dục, Y tế và các đoàn thể, như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội Nông dân… Sau các sự kiện văn hóa lễ hội, hầu như không để lại những hậu quả xấu cho môi trường xã hội cũng như môi trường sinh thái. Sau mỗi lễ hội, từng địa phương đã kịp thời thu dọn sạch sẽ, gọn gàng và nhanh chóng ổn định cuộc sống của nhân dân trở lại niềm vui cho dân chúng, an ninh trật tự được đảm bảo. Tuy nhiên, qua việc tổ chức lễ hội năm 2000, cho thấy tình trạng quá tải xảy ra ở hầu hết các lễ hội, vì nhân dân đến quá đông trong khi địa phương chưa đủ khả năng đón tiếp, nhất là với khách từ xa tới có nhu cầu nghỉ đêm. Các cơ sở lưu trú, các cơ sở dịch vụ chưa đáp ứng được nhu cầu cho du khách. Hoạt động du lịch gắn với lễ hội đã được triển khai ở một số địa phương, đã bộc lộ một số điểm yếu trong việc thu hút khách chủ yếu là đối tượng khách quốc tế, theo tour du lịch gắn với lễ hội, do đó kết quả mang lại chưa thật cao như chúng ta mong muốn. Thiết nghĩ, giữa các địa phương, các ngành, các đơn vị hoạt động du lịch rất cần tổ chức những hội nghị chuyên đề để rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm gắn các hoạt động văn hóa lễ hội trong những năm sau đạt hiệu quả cao hơn trong việc khai thác tour du lịch.
Trung Công -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Tác giả làng kiến trúc phong cảnh du lịch Việt Nam bị sa lưới pháp luật

Ngày 3/4/1999 Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã ký Quyết định truy tố Nguyễn Thị Thanh Thủy, nguyên Giám đốc trung tâm phong cảnh Việt Nam và Trịnh Hồng Triển, nguyên Phó Giám Đốc Sở Xây dựng Thành phố Hà Nội ra trước Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội. Hành vi phạm tội của hai “quan lại” này như thế nào?
Lừa Chính phủ và Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội
Năm 1992, cơn sốt đất với giá cả “leo thang” đến chóng mặt, tấc đất quả là tấc vàng. Một m2 đất ở ngoại thành giá lên tới 1 – 2 cây vàng/m2 . Các khu phố chính ở nội thành giá lên tới 10 cây vàng/m2. Hồ Tây, nơi quy hoạch là khu du lịch trong tương lai trở thành trung tâm “sốt” đất của Hà Nội. Và làng Võng Thị Hồ Tây trở thành miếng mồi béo bở cho những kẻ lòng dạ tham lam dòm ngó. Nguyễn Thị Thanh Thủy và Trịnh Hồng Triển tuy đã có nhà khang trang cũng không cưỡng lại được mong muốn có một căn nhà ở cạnh Hồ Tây. Nhưng làm thế nào để có được ? Sau nhiều lần khảo sát Võng Thị, bà Thủy, ông Triển quyết định lừa cấp trên. Thế là dự án xây dựng làng Kiến trúc phong cảnh du lịch hình thành, với một lá chắn thật mỹ miều: “Đưa ra một tổ chức mới về không gian đô thị, thu hút khách du lịch vào Việt Nam bằng thương mại và cây cảnh, cho thuê chỗ ở, nhằm giới thiệu các kiểu nghệ thuật phong cảnh và văn hóa Việt Nam truyền thống”. Đề án được nhanh chóng hoàn thành, và bà Thủy gửi ngay lên Hội kiến trúc sư Việt Nam để xin xác nhận. Sau khi được ông Tổng thư ký Hội Nguyễn Trực Luyện xác nhận, bà Thủy khẩn trương thành lập “Ban cố vấn” bằng cách ghi tên 8 đồng chí đều là lãnh đạo cao cấp của các Bộ và các ngành làm thành viên.
Trót lọt thủ tục này, bà Thủy gửi dự án lên Thủ tướng Chính phủ và một số Bộ, ngành để xin ý kiến.
Quả thực, ở Hà Nội có một làng kiến trúc phong cảnh du lịch nằm trong khu du lịch như mục tiêu bà Thủy nêu ra thật hợp ý của nhiều người. Chính vì vậy mà nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nhận xét: “Dự án làng kiến trúc phong cảnh sẽ là một đề xuất tốt và nếu thực hiện được dự án sẽ đóng góp vào việc hình thành, phát triển các khu dân cư của ta trong thời gian tới. Tôi mong đây là một thí điểm xây dựng một làng vừa mang đầy đủ tính truyền thống văn hóa Việt Nam, vừa làm đẹp cảnh quan môi trường Thủ đô. tôi đề nghị Bộ Xây dựng, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Bộ Văn hóa – Thông tin và các cơ quan hữu quan tạo mọi điều kiện thuận lợi để dự án được thực hiện”.
Được những lời “vàng” này, mưu đồ của bà Thủy ông Triển như được chắp cánh. Bà Thủy làm ngay công văn gửi Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Sở Xây dựng, Viện quy hoạch Hà Nội xin 5.400 m2 đất tại làng Võng Thị để thực thi dự án. Cùng với công văn này, bà Thủy còn trực tiếp gặp ông Trương Tùng, lúc đó là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội để xin thêm ý kiến “chỉ đạo”.
Cùng với hoạt động rất có hiệu quả của bà Thủy, ngày 24/06/1992, Trịnh Hồng Triển cũng “lộ mặt” ra tay, bằng cách làm công văn giới thiệu khu đất gần chùa Võng Thị quận Ba Đình cho Trung tâm thiết kế phong cảnh Việt Nam. Trong công văn ông Triển ghi rõ ràng việc cấp đất ở đây là cấp cho dự án “thuộc đề tài cấp Nhà nước”.
Với hai “gọng kìm”, một chạy lên Chính phủ, một chạy lên Ủy ban nhân dân thành phố mà kết cục là công việc cứ dần dần “xuôi mái, thuận dòng”. Ngày 27/06/1992, ông Vũ Huy Tự, Phó văn phòng Chính phủ ra công văn số 2775, ghi rõ: “Hội kiến trúc sư Việt Nam xin khoảng 5.000 m2 đất để xây dựng làng kiến trúc phong cảnh làm mô hình trong các dự án cấp Nhà nước KC11-11. và cũng tại công văn này, ông Lê Huy Tự còn bịa ra ý kiến của Thủ tướng Chính phủ: “Giao cho Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội xem xét đề nghị của Hội theo đúng các yêu cầu quản lý xây dựng cơ bản và đúng quy hoạch đô thị đã được duyệt”.
Và thế là, khi công văn bịa ý kiến của Thủ tướng chưa ráo mực, ngày 30/06/1992, ông Triển và ông Trương Tùng cầm bút ký ngay vào văn bản thỏa thuận đã được soạn thảo sẵn, đồng ý cho Trung tâm kiến trúc phong cảnh Việt Nam được nghiên cứu sử dụng đất tại làng Võng Thị để xây dựng. Kế đó, ngày 20/08/1992, ông Trương Tùng với cương vị Phó chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cầm bút ký vào giấy phép sử dụng đất số 167/UB, cấp cho Trung tâm kiến trúc phong cảnh Việt Nam 5.000 m2 đất để xây dựng công trình nhà và 861 m2 để xây dựng đường làng phong cảnh. Và cũng rất nhanh chóng, với cương vị Phó kiến trúc sư trưởng thành phố Hà Nội, ngày 09/03/1993, Trịnh Hồng Triển đã cấp giấy phép xây dựng số 269-3-1993, cho Trung tâm.
Với việc có đất và có giấy phép xây dựng, cú lừa của bà Thủy ông Triển đã hoàn thành. Tính từ khi bắt tay vào mưu tính cho đến khi “thành công” thời gian chỉ mất có 11 tháng. Với năm 1993 thì thủ tục này cũng nhanh đạt mức kỷ lục.
Đón đọc kỳ II: Làng kiến trúc phong cảnh đội lốt, thay hình.
Phạm Thành – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Thủy điện YaLy

Tổ máy I chính thức hòa vào dòng điện quốc gia 500KV
Vào hồi 20 giờ 15 phút ngày 12 tháng 5 năm 2000, tổ máy I Thủy điện Yaly đã chính thức phát điện với công suất tối đa 180 MVA và hòa vào dòng điện quốc gia 500 KV. Trước đó, chiều ngày 10 tháng 5, đã đưa điện tra trạm phân phối ngoài trời cách nhà máy là 4,5 km nhưng chưa thể hòa cùng 500 kv vì phải cân chỉnh lần cuối cùng. Một trong những nguyên nhân lâu nay Yaly chậm phát điện có lý do việc nhập các thiết bị thiếu đồng bộ làm cho quá trình lắp đặt, hiệu chỉnh trở nên hết sức phức tạp, kéo dài thời gian, tốn nhiều công sức, trí tuệ. Trong khi đó, để đảm bảo cao nhất việc phát điện an toàn, yêu cầu cân chỉnh thật chính xác được đặt ra nghiêm ngặt, các thông số kỹ thuật của thủy điện Yaly phải hoàn toàn trùng khớp với thông số của dòng điện quốc gia. Sau khi chính thức phát điện hơn một giờ đồng hồ, tổ máy I tạm ngừng dành cho lần hiệu chỉnh cuối cùng trước khi hoạt động liên tục, thông suốt. Việc tổ máy I thủy điện Yaly phát điện đã chấm dứt tình trạng kéo dài trong xử lý kỹ thuật đối với một công trình thủy điện quan trọng và sau nhiều lần lỗi hẹn tiến độ, thỏa lòng mong đợi của nhân dân cả nước về dòng điện quốc gia góp phần bổ sung lượng điện cần thiết cho cả nước trong tình hình khan hiếm điện hiện nay, phục vụ tính cực công cuộc Công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Tổ chức hội chợ triển lãm tại Vĩnh Long
Nhân dịp thông xe cầu Mỹ Thuận công trình của thế kỷ vào ngày 21 tháng 5 năm 2000, Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long chủ trường và giao cho Công ty Liên doanh Trách nhiệm hữu hạn Du lịch Trường An phối hợp với Công ty triển lãm quảng cáo Hội chợ Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức hội chợ triển lãm phát triển kinh tế – văn hóa – Thương mại và Du lịch Cửu Long tại khu du lịch Trường An, thị xã Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long từ ngày 20 tháng 5 đến ngày 28 tháng 5 năm 2000.
Chương trình khai mạc hội chợ ngày 20 tháng 5 năm 2000
Từ 7 giờ đến 8 giờ
Đón tiếp đại biểu và quan khách, có lồng chương trình văn nghệ, múa lân trống kèn. Chương trình văn nghệ ca nhạc chào mừng như múa Lân Sư Rồng, ca múa nhạc.
Từ 8 giờ đến 8 giờ 05: giới thiệu thành phần đại biểu.
8 giờ 05 đến 8 giờ 10: Phát biểu giới thiệu và chào mừng Hội chợ triển lãm của Ban tổ chức Hội chợ triển lãm.
8 giờ 10 đến 8 giờ 15: Công ty Dầu gió Trường Sơn – nhà tài trợ chính đọc lời chào mừng Hội chợ triển lãm.
8 giờ 15 đến 8 giờ 25: Lời chào mừng Hội chợ Triển lãm của Đại diện Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh hoặc của Sở Thương mại Thành phố Hồ Chí Minh.
8 giờ 25 đến 8 giờ 40: Diễn văn khai mạc Hội chợ của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
8 giờ 40: Đánh trống khai Hội tại Trung tâm văn hóa.
8 giờ 45: Chương trình cắt băng khai mạ hội chợ triển lãm. Đại biểu lãnh đạo Bộ ngành Trung ương. Đại diện lãnh đạo các tỉnh và Thành phố Hồ Chí Minh.
8 giờ 50: Tham quan Hội chợ triển lãm. Múa lân chào quan khách tham quan hội chợ.
10 giờ: Tiệc chiêu đãi Đại biểu do Ủy ban nhân dân Tỉnh chủ trì tại Nhà hàng Trường An.

Thất Sơn -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Làng cổ, làng nghề

Từ các trung tâm đô thị chỉ đi vài cây số đã tới các làng cổ, như ở thị trấn Từ Sơn, Bắc Ninh thì làng cổ kề bên. Ở Hà Nội dù quy hoạch đã mở rộng, các làng cổ vẫn được bảo tồn như làng Bưởi, làng Yên Phụ, Quảng Bá….
Làng cổ nào ngày trước tương đối khá giả, hoặc có chút học vấn đều xây dựng cho làng một cái cổng. Cổng làng có thể là tam quan tứ trụ (bốn cột ba cửa) hoặc nhị trụ độc môn (hai trụ một cửa).
Đã xây được cổng, phải “xin chữ” của các cụ túc nho, viết chữ to lên trán cổng, như bức hoành phi. Khi thì là chữ vua ban vì làng có công với nước, có phong tục đẹp, như “Mỹ Tục Khả Phong” hoặc là cái tên chỉ địa phương “An Đông Chính Lộ” (đường chính vào làng Đông), “Hồ Áp Đình Môn” (cửa đỉnh thôn Hồ). Bên cạnh cổng làng thường trồng một cây đa, bồ đề, có khi lại là cây gạo gốc sần sùi, mùa xuân hoa nở đỏ cành.
Đường vào làng cổ lát gạch chỉ, gạch nung già lại lát nghiêng nền đường bền vững vài trăm năm. Một trận mưa rào ào qua, mặt đường sạch bong, đỏ sẫm sắc gan gà vững chãi. Nhiều làng lập hương ước quy định khi trai gái thành thân sẽ đóng cho làng một, hai trăm gạch lát đường, năm này qua năm khách đường làng cứ dài rộng mãi ra, thuận tiện cho việc hiếu và lễ hội hàng năm của làng.
Đình chùa làng cổ là nơi tập trung dân làng, ngày sóc vọng các bà mẹ cùng những thiện nam tín nữ lên chùa thắp hương niệm phật. Tượng Phật ở chùa làng là một tổng thể điêu khắc hoàn mỹ, chùa nào cũng có trên một trăm tượng, to lớn như tượng Hộ Pháp, xinh xắn như tượng gắn trên động Cửu Long, hiền dịu từ bi là khuôn mặt các pho tượng Tam Thế, Phật Bà, dữ dằn như mặt quỷ sứ dưới địa ngục của Diêm Vương. Tượng Phật chùa làng thể hiện sắc thái nhân gian sống động.
Đình làng là nơi tụ họp dân để bàn bạc việc lớn của làng như đắp đường, đào mương, xây kè cống. Đình là nơi thờ Thành hoàng, danh nhân có công với làng với nước, có đình thờ chúa Bà uy nghi không kém. Trong đình thường có đôi ngựa gỗ hồng bạch to lớn như ngựa chiến, đặc biệt là các cỗ long kiệu bát cống, sơn son thếp vàng, ngày hội thánh, giai kiệu khênh kiệu trên vai đi rước như một màn múa hoành tráng, gây ấn tượng sâu sắc cho dân làng và khách thập phương về dự hội. Hậu cung đình là chốn linh thiêng, không phải ai cũng vào được, nơi đây có bộ long ngai và đặc biệt bảo quản các bản thần phả và các bản sắc phong của các triều đại ngày trước.
Mỗi nhà dân trong làng cổ là một khuôn viên hoàn chỉnh. Sân lát gạch Bát Tràng, bể chứa nước mưa có mái vòm che, vài cây cau kề bên thân cao vút, dưới gốc là giàn trầu không, cạnh đó là một hai gốc nhài lấy hoa ướp chè, hay bụi sói hoa chín trắng như hạt tấm. Ngôi nhà gỗ ba gian, năm gian, tường xây bằng gạch vồ hòm sớ, hoặc gạch Bát Tràng không trát giữ nguyên màu sành. Cửa gỗ bức bàn, cột gỗ, vách gỗ đều bằng lim, mái lợp nhiều lớp ngói chiếu, ngói mũi hài. Những ngôi nhà cổ này mát về mùa hè, ấm về mùa đông, tránh được gió mùa. Sau nhà là vườn cây vườn quả, mùa xuân mở cửa sổ hương hoa bưởi phả hết mấy gian nhà, mùa hè ổi chín thơm thoáng, còn hương hoa ngâu, hoa mộc mùa thu đông có cảm giác âm ấm không gian. Mọi gia đình trong làng cổ đều lấy việc thờ cúng tổ tiên làm đạo, đó là văn hóa tâm linh được lưu truyền gìn giữ bao thế hệ. Trong các ngôi nhà cổ bàn thờ tổ tiên bao giờ cũng được đặt chính giữa với các bộ đồ thờ bằng gỗ đơn sơ hay đồ đồng sang trọng. Nhà khá giả còn treo bộ hoành phi, câu đối nói về nếp gia phong để răn dạy con cháu.
Thời kỳ đổi mới của đất nước, làng nghề truyền thống được phục hồi và phát triển, có nơi được giới hóa để nâng cao năng suất. Làng Gốm sứ Bát Tràng với hàng vạn mặt hàng các loại, từ đôn chậu lọ hoa đến bát đĩa ấm chén, sưu tầm phục chế nhiều dáng lọ cổ, men và họa tiết đời Lý Trần, nhiều khách nước ngoài đã mua hàng với số lượng lớn. Cũng là làng gốm, gốm Hương Canh (Vĩnh Phúc) với sản phẩm đất nung, dùng men đất men tro, tạo ra các sản phẩm có tính thô mộc dân dã, nhưng rất đẹp về tạo dáng và sắc men gan gà. Làng chạm gỗ Kiêu Kị với nét đục chạm tứ linh tứ quý tài hoa. Làng nghề đục đá bên chân núi Ngũ Hành Sơn với những tác phẩm bằng đá trắng nõn nà. Làng Nhị Khê có nghề tiện gỗ. Làng Bưởi làm giấy dó lụa, làng Đông Hồ (Bắc Ninh) vừa làm giấy vừa in tranh gà vịt với sắc điệp làm nao lòng người, làng Văn Lâm (Ninh Bình) với nghề thêu ren tài hoa…Còn bao nhiêu làng nghề thủ công truyền thống trên đất nước ta, khi thì suy vong đình đốn, khi lại hưng thịnh phát đạt. Mỗi làng nghề truyền thống là một chiếc nôi đào tạo tài năng, các nghệ nhân cao tuổi truyền nghề cho lớp lớp con cháu kế nghiệp.
Hiện nay chúng ta còn thiếu sự quy hoạch và hệ thống các làng cổ làng nghề, tạo cho các chuyến du lịch trong và ngoài nước hấp dẫn. Sự kết hợp giữa ngành Văn hóa và Du lịch với các địa phương còn bảo tồn được làng cổ, làng nghề thủ công truyền thống là rất cần thiết. Với kinh phí không nhiều cho công việc biên soạn giới thiệu làng cổ làng nghề, là việc làm trong tầm tay của các ngành có liên quan.
Phương Khánh – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Khách sạn “Vườn xanh” ở Huế

Nằm chen lẫn trong các lùm cây xanh um tùm, một dãy nhà khang trang đã đập vào mắt tôi. Đó là khách sạn Thành Nội, đúng như tên gọi, khách sạn này nằm cạnh Hoàng cung triều Nguyễn trong một không gian yên tĩnh tự nhiên. Được biết khách sạn Thành Nội đã đạt được nhiều hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Yếu tố nào đã làm cho khách sạn Thành Nội thành công ?
Đi vào thực tế, khách sạn Thành Nội không giống như bao khách sạn khác, nếu nói là biệt thự du lịch cũng chưa hẳn là đúng mà ở đây là một tập hợp gồm những căn nhà xinh xắn liền kề nhau bao quanh bởi màu xanh thực vật.
Khi đến phòng tiếp tân khách sạn Thành Nội tình cờ tôi đọc được, trên cuốn sổ góp ý ghi lại những cảm tưởng của du khách nước ngoài sau khi đã trú ngụ tại đây.
“Chúng tôi rất thích thú khi ở lại đây. Thức ăn rất ngon. Đơn giản mà dễ thương. Chúng tôi thích uống nước chanh. Chúng tôi đã tìm thấy sự yên tĩnh và thư giãn. Xin cảm ơn lòng mến khách của khách sạn Thành Nội (Roselyn và Peter Michell-Australia).
“Người bạn dễ thương nhất (khách sạn Thành Nội), chỗ ở lý tưởng khi tôi đến Việt Nam. Tôi thường đi đây đó và luôn trở lại khách sạn Thành Nội mỗi khi đến Huế. Cảm ơn các nhân viên khách sạn đã đón tiếp tôi ân cần. Tôi sẽ giới thiệu với khách du lịch khác đến đây” (Kate-Mỹ).
Khách sạn Thành Nội mới thành lập được 3 năm, trực thuộc Ban Tài chính Quản trị Tỉnh ủy. Tuy khách sạn mới đi vào hoạt động trong một hoàn cảnh, môi trường kinh doanh có nhiều yếu tố phức tạp nhưng, với nỗ lực của tập thể Cán bộ công nhân viên, khách sạn Thành Nội đã đạt được những thành công trong hoạt động kinh doanh du lịch đáng khâm phục. Cụ thể: số khách năm 1998 tăng 136% so với năm 1996 (10.000 khách), đặc biệt khách quốc tế tăng 180% cộng thêm số ngày lưu trú bình quân trong năm 1998 là 2,9 ngày đã làm cho tổng doanh thu năm 1998 tăng 118% so với năm 1996.
Khi trao đổi với ông Lê Bá Hậu, Giám đốc khách sạn Thành Nội về bí quyết thành công của đơn vị, ông cho biết: “Bước đầu, chúng tôi đạt hiệu quả trong sản xuất kinh doanh nhờ 2 yếu tố: Một là khách sạn được sự quan tâm chỉ đạo của Ban Tài chính Quản trị Tỉnh ủy đã hỗ trợ doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch. Hai là anh chị em Cán bộ công nhân viên của khách sạn đã đoàn kết nỗ lực, ý thức tự chủ hoàn thành tốt công việc của mình. Doanh nghiệp đã tồn tại nhờ nâng cao chất lượng phục vụ về cả 3 mặt: cơ sở vật chất, thái độ phục vụ và chất lượng phục vụ.
Khách sạn đã tổ chức marketing tại chỗ, với cung cách phục vụ làm sao cho khách ngày càng hài lòng hơn. Khách sạn đã chú ý giới thiệu phát huy nét văn hóa dân tộc như: cơm cung đình, đặc sản bánh Huế mà du khách nước ngoài rất thích.
Ngoài ra, chúng tôi đã trực tiếp mời khách thưởng thức các sản phẩm đặc sản hương vị xứ Huế làm du khách cảm thấy thú vị. Với hoạt động đối ngoại quan hệ rộng song song với sự phục vụ ân cần chu đáo, chính vì vậy số lượng khách nước ngoài từ châu u, châu Mỹ, châu Á đến với khách sạn Thành Nội ngày một đông hơn”.
Chia vui với kết quả mà khách sạn Thành Nội đã đạt được, tôi cũng nhận ra rằng môi trường thiên nhiên, tĩnh lặng, ngôi “nhà vườn” phảng phất nét Á Đông với những lùm cây gọn gàng: những khoảng xanh thoáng dịu này và chất lượng phục vụ khách ở khách sạn đã góp phần tạo nên sự thu hút du khách của khách sạn Thành Nội.
Anh Duyệt – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Ca sĩ cũng cần tự giác nộp thuế

Cái tin kể từ ngày 1-8-1999, Nhà nước sẽ tiến hành thu thuế đối với các ca sĩ đã gây sự chú ý không chỉ riêng với giới ca sĩ mà còn cả với những người hoạt động nghệ thuật nói chung. Nhiều câu hỏi đã được đặt ra: Tại sao lại chỉ thu thuế ca sĩ? Liệu có thu thực không ?
Cần nói ngay rằng, việc thu thuế đối với ca sĩ là cần thiết và đáng lẽ phải thực hiện từ lâu. Bởi theo Pháp lệnh của Chính phủ ký ngày 27-12-1990, những đối tượng có mức thu nhập bình quân trên 2 triệu đồng/ tháng sẽ phải chịu “Thuế thu nhập đối với người thu nhập cao”. Việc thu nộp thuế được tiến hành rất nghiêm túc ngay từ năm 1991 với số tiền nộp ngân sách năm 1992: 153 tỷ và 1998: 1.710 tỷ đồng. Sở dĩ Cục thuế bây giờ mới “để ý” tới các ca sĩ vì trước đây cả 2 bên đều “chưa quan tâm” tới việc này. Cục thuế lơ là, còn các ông bầu, các nhà tổ chức cố tình… không nhớ. Hơn nữa, khi đó, chưa có con số chính xác cho catsê của ca sĩ. Gần đây, báo chí đã phản ánh nhiều, lên tiếng báo động về tình trạng catsê ngày càng tăng với các con số 1 triệu, 2 triệu đến 8 – 10 triệu đồng, gây ra sự bất bình đẳng trong nhu cầu thưởng thức âm nhạc của một số bộ phận khán giả. Với mức trên 2 triệu đồng / tháng đã có thể chiếu theo luật để nộp, vậy ca sĩ có số tiền thu nhập “khổng lồ” một tháng (thấp nhất 1 triệu / sô, cao là 10 triệu / sô, ngày có thể 2,3 sô diễn) có thể nằm ngoài “luật” được không ? Cần hiểu rằng, nộp thuế vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của mỗi cá nhân, tạo sự bình đẳng trong xã hội. Thuế thu nhập sau khi nộp vào ngân sách Nhà nước sẽ gián tiếp trở lại người dân bằng cách tính một phần vào cá hoạt động xã hội, các quỹ phúc lợi xã hội… Hơn nữa, chỉ thu thuế ca sĩ từ 1-8-1999 là một ưu đãi vì theo luật, phải truy thu 3 năm. Nhưng cơ quan thuế đã… bỏ qua, nên các ca sĩ phải thấy thế làm mừng, tự giác nộp thuế.
Các ca sĩ đòi catsê cao, không kể đến chất lượng nghệ thuật và nhu cầu được hưởng thụ văn hóa của nghệ thuật và nhu cầu được hưởng thụ văn hóa của khán giả là sự bất bình nơi người xem. Nhiều đơn vị nghệ thuật ngày đêm đi biểu diễn vùng xa xôi, hải đảo, miền núi… rất gian khổ, lăn lộn trên mọi nẻo đường Tổ quốc để đem lời ca tiếng hát phục vụ khán giả… mà thu nhập mỗi tháng chỉ 300.000 – 400.000 đồng, nếu so với các ca sĩ chạy sô như trên thì quả là quá chênh lệch. Theo bà Nguyễn Thị Cúc, Tổng cục phó Tổng cục thuế cho biết thì muốn thu thuế của các sĩ phải thu từ nguồn. Nghĩa là, các ông bầu, các nhà tổ chức đ1ong một vai trò rất quan trọng khấu trừ tiền ngay khi trả catsê cho ca sĩ. Nhiều người lo ngại rằng: việc này rất khó thực hiện được vì có thể các ca sĩ và các nhà tổ chức “câu kết” với nhau, cùng giúp nhau… trốn thuế. Vì không dừng ở thu thuế ca sĩ, các nhạc sĩ, đạo diễn, nghệ sĩ, nhà tổ chức… có mức thu nhập trên 2 triệu đồng cũng sẽ phải chịu thuế. Giải pháp duy nhất của cơ quan thuế bây giờ là… chỉ trông chờ vào sự tự nguyện của các cá nhân, có biện pháp trừng phạt đích đáng đối với kẻ trốn thuế. Chắc chắn phải có sự kết hợp của các cơ quan liên quan, việc thu thuế mới hiệu quả hơn.
Ngọc Huyền-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Lời cảnh báo cho các nhà du lịch thám hiểm “Dũng cảm”

Khi những người cứu hộ tìm thấy Robert Bogucki ở sa mạc Great Sandy vào ngày 23/8 thì anh đã bị mất tích gần một tháng rưỡi. Với cuốn Kinh thánh trong tay, anh lính cứu hỏa người Alaskan, Mỹ, 33 tuổi này đã đi vào nơi hoang dã để “giành lại hòa bình với Thánh”. Nhưng rốt cuộc người cứu anh thoát chết không phải là các thiên thần mà đầu tiên là nhóm cảnh sát địa phương, sau đó đến đội cứu hộ Mỹ và cuối cùng là phóng viên của Đài truyền hình đã đưa anh về nơi an toàn. Sau khi vượt qua 400 km sa mạc trong suốt 43 ngày Bogucki nói với đội cứu hộ: “Tôi phải từ bỏ đi bộ”.
Cảnh sát địa phương hy vọng họ đã có một bản danh sách các nhà du lịch thám hiểm đến Úc với lòng nhiệt tình háo hức nhưng không được chuẩn bị chu đáo để thử tự mình sống trong sự hoang dã. Sau khi được cứu vì trò mạo hiểm của mình, Bogucki đã cảm ơn và xin lỗi mọi người.
Bogucki bắt đầu chuyến du lịch của mình bằng xe đạp cùng với bạn gái của mình là Janet North. Sau đó cô bạn từ chối không thể đi tiếp khi Bogucki bỏ xe đạp cách phía nam Broome 300 km để đi vào sa mạc, với một chiếc lều bạt, thức ăn, nước và cuốn Kinh Thánh. North đã háo với cảnh sát rằng Bogucki đang đi tìm kiếm sự khai sáng về tinh thần và có thể tránh những người tìm kiếm. Bogucki nhanh chóng hết đồ dự trữ và rơi vào tình trạng phải ăn cây cỏ, hoa, lá. Nhưng theo anh “Tôi có cảm giác là Chúa sẽ quan tâm đến tôi”. Cảnh sát Úc cùng với sự hỗ trợ của chó nghiệp vụ đã từ bỏ cuộc tìm kiếm sau 2 tuần. Họ nói rằng: “Đó không phải là lỗi của chúng tôi nếu như có kẻ ngu ngốc dại khờ muốn đi bộ qua sa mạc và không muốn bị tìm thấy”.
Trở lại Malibu-California, cha mẹ của Bogucki đã thuê một đội cứu hộ tư đi tìm kiếm. Nhóm Response đặc biệt số 1 đã lôi kéo một lực lượng báo chí lớn. Họ tìm thấy chiếc lều cuối cùng của anh ta và một đội Truyền hình đã phát hiện ra anh ta từ chiếc trực thăng của họ. Họ đã phỏng vấn anh ta suốt 45 phút trước khi chở anh ta ra khỏi sa mạc đến thị trấn ven biển Broome. Trong bệnh viện, anh ta thấy mình bị hao mất 60 pound nhưng người vẫn khỏe mạnh.
Theo Ủy ban Du lịch Úc, số lượng người muốn khám phá thế giới bí ẩn của Úc ngày càng tăng, kể cả đi vào rừng lẫn đi vào sa mạc. Ủy ban này đã cảnh báo với khách du lịch, những ngày nghỉ đó gọi là “không đi bộ trong công viên”.
Ngày Bogucki được ra khỏi viện, cảnh sát đã buộc phải từ bỏ một cuộc kiếm tìm 5 thanh niên Úc tuổi khoảng 20. Họ đã bị mất tích ở Núi Tuyết từ ngày 7/8/1999, vì đi trượt tuyết mà không mang theo nhà lều và trang bị máy móc thông tin liên lạc, và… Kinh thánh.
Thúy Bình – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999