Về việc lập văn bản phòng đại diện, chi nhánh du lịch ở trong nước và nước ngoài

Ngày 8/7/1999, Thủ tướng Phan Văn Khải đã ký Nghị định của Chính phủ số 48/1999/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại và Pháp lệnh Du lịch về Văn phòng đại diện, Chi nhánh của thương nhân và của doanh nghiệp du lịch Việt Nam ở trong nước, ở ngoài nước. Nghị định có 5 Chương, gồm 14 điều.
Theo Nghị định này Văn phòng đại diện của thương nhân của doanh nghiệp du lịch được thành lập ở trong nước, ở nước ngoài để xúc tiến thương mại hoặc xúc tiến du lịch, nhưng không được hoạt động thương mại hoặc kinh doanh du lịch sinh lợi trực tiếp. Chi nhánh được thành lập ở trong nước, ở nước ngoài để hoạt động thương mại kinh doanh du lịch. Một doanh nghiệp có thể thành lập một hoặc nhiều Văn phòng đại diện, Chi nhánh. Trưởng Văn phòng đại diện này có thể kiêm làm Trưởng Văn phòng đại diện khác, nhưng Trường Chi nhánh này không được kiêm làm Trưởng Chi nhánh khác hoặc kiêm làm Trưởng Văn phòng đại diện. Đối với doanh nghiệp du lịch chỉ có doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế được thành lập Văn phòng đại diện, Chi nhánh ở nước ngoài.
Theo Nghị định này các Sở Du lịch (Sở Thương mại – Du lịch) nơi Văn phòng đại diện, Chi nhánh đặt trụ sở chịu trách nhiệm đăng ký thành lập Văn phòng đại diện, Chi nhánh ở trong nước của doanh nghiệp du lịch, Sở Du lịch (Sở Thương mại – Du lịch) nơi doanh nghiệp du lịch đặt trụ sở chính chịu trách nhiệm đăng ký thành lập Văn phòng đại diện, Chi nhánh và bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (có công chứng). Đối với việc đăng ký thành lập Văn phòng đại diện, Chi nhánh ở nước ngoài của doanh nghiệp du lịch thì hồ sơ ngoài đơn, bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp, còn phải có văn bản chấp thuận của Bộ, cơ quan quản lý ngành ở trung ương (đối với doanh nghiệp trực thuộc Bộ, ngành) hoặc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (đối với doanh nghiệp thuộc tỉnh, thành phố) và văn bản chấp thuận của Tổng cục Du lịch (đối với doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế).
Nghị định quy định rõ thủ tục, thời hạn giải quyết việc đăng ký, trách nhiệm của các doanh nghiệp, Văn phòng đại diện, Chi nhánh, thủ tục chấm dứt hoạt động của Văn phòng đại diện, Chi nhánh và trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đối với hoạt động của Văn phòng đại diện, Chi nhánh.
Anh Hậu (Vụ Pháp chế TCDL) – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 1999

2700 tỷ đồng cho dự án năng lượng nông thôn Việt Nam

Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt tổng thể Dự án năng lượng nông thôn Việt Nam do Tổng Công ty Điện lực Việt Nam làm chủ đầu tư. Nội dung và nhiệm vụ của dự án này là xây dựng hệ thống điện trung và hạ thế để cấp điện khoảng 700 xã thuộc 176 huyện của 32 tỉnh ở cả 3 miền Bắc – Trung – Nam nhằm phát triển kinh tế – xã hội các vùng nông thôn, miền núi thuộc những địa phương này. Theo kế hoạch, dự án được thực hiện trong vòng 4 năm, từ năm 2000 – 2003, với tổng vốn đầu tư ước tính hơn 2.700 tỷ đồng, trong đó, vay ở Ngân hàng Thế giới 150 triệu đô la Mỹ là 2100 tỷ đồng để mua sắm thiết bị vật tư, xây lắp, chi phí chuẩn bị đầu tư… Còn lại là vốn huy động trong nước, bao gồm vốn đối ứng từ chủ dự án, vốn từ ngân sách địa phương và vốn của các hộ dân sử dụng điện.
Người nghèo có thể vay vốn để đi làm việc ở nước ngoài
Hiện nay theo yêu cầu của Chính phủ, Bộ lao động Thương binh và Xã hội đang xây dựng một chính sách, cơ chế ưa đãi vay vốn tín dụng cho người nghèo có đủ tiêu chuẩn, điều kiện đi làm việc ở nước ngoài. Đối tượng được hưởng sự ưu đãi này là những người có đủ tiêu chuẩn theo hợp đồng với doanh nghiệp xuất khẩu lao động, ưu tiên người nghèo là đối tượng chính sách, người có công với cách mạng con liệt sỹ, người được hưởng chính sách như thương binh. Việc cho vốn sẽ áp dụng theo cơ chế phù hợp với điều kiện của đối tượng vay, phương pháp vay theo hình thức tín chấp do các đoàn thể như Đoàn Thanh niên, Hội phụ nữ.. đứng ra bảo lãnh. Được biết, mức vay tùy thuộc vào từng bước đi làm việc trên nguyên tắc đảm bảo cho người lao động nộp đủ các khoản lệ phí đặt cọc.
Vịnh Hạ Long
Cho sự hài lòng và tự ngợi ca. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là thu hồi vốn và nhận thấy những mục đích có thể và cân nhắc mà ông Tuấn cùng cộng sự của ông đưa ra. Nhưng quan trọng không kém là xác định những trách nhiệm ở phía trước. Nhiều vấn đề vật chất được mang đến hoặc giải quyết dưới sự giám sát hiệu quả và nhiều biện pháp sẽ được tiến hành nhằm giải quyết những phần lớn của vấn đề còn tồn tại. Thách thức lớn nhất đứng hàng đầu sẽ làm bật chiếc ô bảo vệ che chở cho những thành tố không thấy được nằm trên vi phạm những khu vực được bảo vệ nhưng lại mỏng manh như những hệ sinh thái và môi trường vịnh Hạ Long. Trong khi điều này có thể thu được thành tựu, đối với phạm vi giới hạn, bởi sự rộng hơn của khuôn khổ luật pháp thì giải pháp thực tế vẫn tăng lên và nhận thức của cộng đồng sẽ lớn hơn để nhận rõ tầm quan trọng của nuôi dưỡng và mong đợi không chỉ về tài sản địa lý và tự nhiên mà còn về quá khứ và văn hóa cuộc sống của người dân, trong đó những hoạt động của con người là một thành phần chủ yếu. Huy động sự giúp đỡ của cộng đồng thương mại và đô thị rộng lớn của Vịnh Hạ Long và Quảng Ninh cũng như sự gia tăng số du khách là rất cần thiết nhưng lại gây ra những ảnh hưởng thực tiễn đe dọa đến tương lai và giá trị mang tính toàn cầu của Vịnh Hạ Long. Ban quản lý Vịnh Hạ Long nhận thức đầy đủ về nhu cầu này và đặt nó lên hàng đầu trong những kế hoạch của họ trong tương lai. Bảo tàng sinh thái Vịnh Hạ Long sẽ mang lại một bộ máy để giải quyết vấn đề này. Tóm lại mặc dù thời gian của tôi ở Việt Nam tương đối ngắn, nhưng đã có một ý tưởng lớn hình thành. Tầm nhìn của ông Tuấn và những người lãnh đạo Quảng Ninh với một giải pháp lớn thực sự hoàn hảo. Tôi không nghi ngờ rằng họ sẽ tiếp tục làm tốt và đưa Vịnh Hạ Long lên hàng đầu trong việc quản lý một di sản thiên nhiên thế giới. Tôi xem nó như một vận hội lớn mang lại cơ hội chia sẻ những thách thức trước mắt tại cuộc họp này và tôi mời gọi tất cả những bạn sẽ trở thành thành viên của giấc mơ lớn này.
PV- Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 25(129)2000.

Trình phê duyệt dự án địa đạo Nam Hồng

Ngay trong năm 1998, hàng loạt các biện pháp bảo vệ, chống xuống cấp, tôn tạo và lắp hồ sơ xếp hạng di tích đã được thực hiện. Đã giải quyết 13 hồ sơ xếp hạng di tích, hoàn thành hồ sơ xếp hạng 3 di tích thuộc khu Thành Cổ (Bắc Môn, Đoan Môn, Hậu Lâu). Tiến hành khai quật khảo cổ học các di tích Hậu Lâu thành cổ… phát hiện nhiều hiện vật quý, giám định, lập xong 900 phiếu hiện vật ở di tích Cổ Loa, Ngọc Sơn và các cổ vật gửi Bảo tàng Hà Nội và đề cương sưu tầm. Công việc trùng tu di tích được tiến hành có bài bản hơn nhiều so với các năm trước đây như ở Cổ Loa, Ngọc Sơn, Hồ Văn, Đình Chèm, đình Quảng Bá, chùa Phụng Thánh, Chân Tiên, Yên Mỹ, Ngọc Trục, Thanh Lâm, Đào Thục, di tích Ngọc Hồi, di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Trình phê duyệt dự án địa đạo Nam Hồng, dự án khả thi di tích cổ Loa, di tích nhà tù Hỏa Lò, tiếp tục thi công hạng mục Đài tưởng niệm các chiến sĩ yêu nước và cách mạng. Các dự án tôn tạo di tích Thành Cổ, khu tượng Vua Lê, tượng Quang Trung, nhà Thái Học – Văn Miếu đã được gấp rút hoàn thành để khởi công xây dựng vào năm 1999. Tổng kinh phí đóng góp của nhân dân cho tu bổ nâng cấp các di tích tại địa phương là 8.123 triệu đồng. Lượng khách đến du lịch tham quan các di sản văn hóa Hà Nội trong năm 1998 cũng là một con số khích lệ, 276.760 khách tham quan di tích Văn Miếu, Ngọc Sơn, Cổ Loa, di tích nhà tù Hỏa Lò, 5D Hàm Long, 48 hàng Ngang, đền Bà Kiệu, Phú Thượng 22.580 học sinh của 60 trường phổ thông trung học và trung học cơ sở tới tham quan và dự lễ khuyến học, doanh thu đạt 1.985,77 triệu đồng. Ngoài ra còn có 30 nghìn lượt khách tới tham quan, học tập được các cơ sở miễn phí. Ngoài ra việc bảo tồn các giá trị văn hóa hữu thể, ngành văn hóa thông tin Hà Nội cũng đặc biệt chú ý công tác bảo tồn các giá trị văn hóa vô thể như việc hướng dẫn các lễ hội truyền thống, bảo tồn, phát huy những nét đẹp văn hóa truyền thống. Theo cán bộ lãnh đạo Sở văn hóa thông tin Hà Nội để lễ kỷ niệm 990 năm và 1000 năm. Thăng Long được long trọng hấp dẫn sự ra quân của ngành văn hóa vừa là khởi đầu. Vừa là kết thúc. Những gì cần làm đã bắt tay vào làm. Mọi việc không phải đã thuận buồm xuôi mái. Ngay việc bảo tồn, tôn tạo các di tích văn hóa, xứng đáng với giá trị vốn có của nó cũng đang có nhiều khó khăn. Tuy nhiên năm 1999 ngành đã thực sự coi công tác bảo tồn là công tác trọng tâm của ngành đã tạo được đà nhất định cho công tác này trong năm 1999 và những năm tiếp theo, tiếp tục phấn đấu nâng cấp các di sản văn hóa, nâng cấp môi trường du lịch văn hóa hấp dẫn hơn đối với các du khách đến Thủ đô.
Phạm Thành-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Nhà soạn nhạc sẽ dần viết nên các đoạn nhạc

Khái niệm công nghệ du lịch là một khái niệm đa dạng và vô cùng rộng lớn. Với mục đích thỏa mãn nhu cầu và trải nghiệm du lịch của khách, đòi hỏi việc tổ chức thực hiện từng phần việc riêng rẽ của nói phải có sự nỗ lực tham gia của rất nhiều người. Trong đó, công nghệ lữ hành lại là một nhân tố không thể thiếu và từng bộ phận nhỏ bé của nó đã và đang góp phần đáp ứng và thực hiện được mọi nhu cầu đa dạng của khách du lịch. Có thể ví như sự hình thành của một tour du lịch chẳng khác nào quá trình sáng tác và phổ biến của một ca khúc. Để đưa được một bài hát đến với khán giả đòi hỏi sự góp sức của rất nhiều người, tương tự vậy, một người không thể làm được tất cả mọi việc trong quá trình phổ biến rộng rãi một tour du lịch tới khách du lịch. Giai đoạn khởi đầu của một ca khúc là giai đoạn sáng tác. Nhà soạn nhạc sẽ dần viết nên các đoạn nhạc, kết nối chúng rồi tìm kiếm lời cho bản nhạc của mình. Tiếp theo là quá trình hòa âm, phối khí. Một dàn nhạc hay một ban nhạc sẽ dựa trên ý tưởng của nhạc sĩ để từ đó tìm tòi phong cách thể hiện các khúc. Sau đó, quá trình giới thiệu ca khúc ra trước công chúng khán giả được tiến hành. Để làm được điều đó, nhạc sĩ cần tìm cho mình một ca sĩ. Mọi việc hoàn tất, người ca sĩ bước lên sân khấu, trình diễn ca khúc trước đông đảo công chúng khán giả. Một tour du lịch cũng ra đời theo thể thức tương tự. Trước tiên là giai đoạn lập kế hoạch. Giai đoạn này tour du lịch sẽ hình thành dần trên từng trang bản thảo. Nhà điều hành tour dường như đang làm nhiệm vụ của một nhà soạn nhạc và viết lời. Tiếp đó, tour du lịch được triển khai và từng phần của tour được kết nối một cách nhịp nhàng như quá trình tìm kiếm nhạc cụ để thể hiện nhạc điệu và lời ca. Đó là một trong những công đoạn rất là quan trọng trong âm nhạc cũng như đối với du lịch thì giai đoạn này cũng quyết định rất nhiều đến thành hay bại. Những phần việc cụ thể đó là: Thuê phương tiện, đặt phòng khách sạn, thuê và phối hợp với một công ty lữ hành địa phương… Tiếp đến là quá trình khuyếch trương, quảng cáo tour đó đến các khách hàng tiềm năng để họ biết đến sự tồn tại của tour mới này. Nhà điều hành tour và các hãng du lịch phải phối hợp cùng nhau trong việc quảng cáo sáng tác mới tour du lịch mới của mình. Sau cùng là giai đoạn thực hiện tour du lịch đã sẵn sàng, cần có một ca sĩ thể hiện nó. Sân khấu chính là điểm du lịch, bài ca chính là tour du lịch và người ca sĩ chính là hướng dẫn viên du lịch. Mỗi giai đoạn đều rất quan trọng. Bởi thế trong giai đoạn cuối của một tour, người hướng dẫn có vai trò cốt yếu đến sự thành công hay thất bại của tour đó vì họ chính là người sẽ để lại những ấn tượng có ảnh hưởng rất lớn đến khách du lịch những khán giả của riêng mình.
Nguyệt Ánh-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Đăk Lăk đã lập dự án quy hoạch xây dựng và bảo vệ hồ Lắc thành nơi du lịch sinh thái

Truyền thuyết của người Mơ Nông kể rằng, ngày xưa trời làm hạn hán đất Tây Nguyên khô cằn, sông suối cạn trơ đáy. Có một cậu bé tên là Lắc Liêng đi bắt cá, đi cả ngày cũng chỉ bắt được một con lươn màu vàng nhỏ như chiếc đũa. Thấy con lươn đẹp, lăc Liêng đem về bỏ vào nồi đồng nui, hàng ngày nhanh như thổi, chẳng mấy chốc đã chật cả nồi đồng. Lắc Liêng bèn chuyển lương sang nuôi ở một cái chè lớn. Lươn lớn chật ché. Chẳng biết làm sao, cuối cùng Lắc Liêng đành thả lương ra cho lươn bò đi. Lươn bò mãi, bò mãi tới một vùng đất rộng thì dừng lại đào hang. Từ hang lươn đào, nước vọt lên. Lươn đào càng sâu, nước vọt càng cao, cứ thế nước dâng dâng mãi thành hồ Lắc bây giờ…. Hồ rộng tới 500 héc ta, lớn vào loại nhất nhì Việt Nam. Bao quanh hồ là đất đai rừng núi các huyện Lắc, Krông Bông, Krông Ana màu mỡ. Về mùa mưa nước nhiều, hồ Lắc đổ nước ra Krông Na khi đầu nguồn mưa lớn kéo dài, nước từ Krông Na tràn vào hồ, mặt hồ mênh mông cuộn sóng. Và nó cứ mênh mông như thế ngay cả trong mùa khô hạn. Nhờ có nước, thảm thực vật quanh nó khá là phong phú, những cánh rừng đai ngàn với đủ loại gỗ quý, những bè cỏ tươi xanh trôi nổi trên mặt nước theo gió, lúc dạt vào bờ này lúc dạt vào bờ kia. Những bè cỏ ấy là nơi kiếm mồi lý tưởng cho đủ loại chim. Lũ chim bói cá, cò, diệc nương theo bè cỏ lặng lẽ rình chộp những chú các chú tôm ngờ nghệch. Nơi sâu nhất của hồ về mùa mưa là 8 đến 10 mét, mùa khô trung bình là 5 mét. Vì cảnh đẹp và những lợi ích mà hồ mang lại, từ lâu, hồ Lắc nổi tiếng là chiếc gương trời trên đất Tây Nguyên. Năm 1938, vua Bảo Đại đã cho xây dựng trên một ngọn núi bên hồ về phía huyện Lắc một biệt thự để nghỉ ngơi. Thỉnh thoảng nhà vua với đây săn bắn. Do không được bảo quản chăm sóc, ngôi biệt thự bây giờ đã thành phế tích. Cũng như thảm thực vật quanh hồ bị con người tàn phá, nay đã trơ trụi đi nhiều. Công ty đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, tuyên truyền vận động nhân dân các buôn làng quanh hồ, xây dựng trong họ ý thức giữ gìn trong sạch nguồn nước, xây dựng các công trình vệ sinh cần thiết cho du khách. Do hồ nhiều cá, nhiều đánh bắt cá diễn ra thường xuyên, Công ty đã bàn với chính quyền địa phương ra quy định cấm đánh bắt cá bằng tài liệu nổ. Để giữa cho chiếc gương trời không bị vẫn đục, ủy ban nhân dân tỉnh Đăk Lăk đã lập dự án quy hoạch xây dựng và bảo vệ hồ Lắc thành nơi du lịch sinh thái, số vốn đòi hỏi hơn 100 tỷ đồng việt nam. Dự án còn đang tìm kiếm đối tác đầu tư. Trong lúc chờ đợi, công ty du lịch tỉnh với khả năng có hạn của mình, đã cố gắng biến hồ Lắc thành một địa điểm du lịch hấp dẫn. Để làm được việc đó, Du lịch tỉnh Đắc Lắc đã cho thành lập tại hồ Lắc một chi nhánh, cán bộ công nhân viên quá nửa là người các dân tộc sở tại, được đào tạo bài bản…., xây dựng hai chiếc nhà dài kiểu M’Nông để khách tham quan, nghỉ ngơi. Lúc đông nhất, đêm 30 tháng 4 năm 1999 hơn 300 du khách đã ngủ qua đêm trên hai chiếc nhà dài. Dịp cuối năm, công ty vừa làm xong một nhà thủy tạ trên hồ. giữa một vùng mênh mông trời nước, ngồi trong nhà thưởng thức hơi nức và làn gió của Tây Nguyên, phóng tầm mắt tới những triền núi xa, du khách ngỡ mình đang ở chốn bồng lai tiên cảnh. Tuy nhiên quan trọng hơn tất cả những điều đã kể là việc giữ gìn cảnh quan du lịch, bảo vệ hệ động vật khu vực hồ. Công ty đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, tuyên truyền vận động nhân dân các buôn làng quanh hồ, xây dựng trong họ ý thức giữ gìn trong sạch nguồn nước, xây dựng các công trình vệ sinh cần thiết cho du khách. Do hồ nhiều cá, nhiều đánh bắt cá diễn ra thường xuyên, Công ty đã bàn với chính quyền địa phương ra quy định cấm đánh bắt cá bằng tài liệu nổ, bằng điện và bằng việc kiểm soát cỡ lưới chỉ cho phép đánh bắt những con cá từ 0,5 kg trở lên. Nhờ thế, ở những phần còn lại, hệ sinh thái của hồ được giữ gìn tương đối nguyên vẹn. Thăm hồ Lắc, du khách sẽ được cưỡi voi, đi thuyền độc mộc, xem dệt thổ cẩm, được ăn cơm lam, uống rượu cần, dự lễ hội cồng chiêng, giao lưu với người dân tộc, chiêm ngưỡng đàn cò trên hồ. Hôm nào cũng vậy, cứ đúng 5 giờ chiều, cả ngàn vạn con cò sau một ngày vất vả lặn lội kiếm ăn, rủ nhau bay về đậu trắng cả một dãy núi phía bên kia hồ. Tinh mơ, chúng lại rủ nhau bay đi. Những cánh cò trắng là những chiếc đồng hồ sinh học tuyệt vời giữ cho các buôn làng của Lắc Liêng đời đời yên ổn.
Ngô Xuân Hội-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Vô cùng thương tiếc báo tin đồng chí Phạm Văn Đồng

Thông báo đặc biệt
Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Chính phủ nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Ủy ban Trung ương mặt trận Tổ quốc nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam vô cùng thương tiếc báo tin:
Đồng chí Phạm Văn Đồng, nguyên ủy viên Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Thủ tướng Chính phủ nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Nguyên cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VII.
Huân chương Sao Vàng, Huy hiệu 60 năm tuổi đảng, Sau một thời gian lâm bệnh, mặc dù được các giáo sư, bác sĩ hết lòng cứu chữa, nhưng do tuổi cao, bệnh nặng, đồng chí đã từ trần vào lúc 23 giờ 10 phút ngày 29 tháng 4 năm 2000 tại Hà Nội, thọ 94 tuổi. Đồng chí Phạm Văn Đồng, bí danh là Tô, sinh ngày 1 tháng 3 năm 1906 tại xã Đức Tân, huyện Mô Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Đồng chí tham gia cách mạng từ năm 18 tuổi, hoạt động trong phong trào học sinh. Năm 1926 đi dự lớp huấn luyện tại Quảng Châu do đồng chí Nguyễn Ái Quốc tổ chức và được kết nạp vào Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội. Sau khi dự Đại hội Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội ở Hương Cảng – Trung Quốc, đồng chí trở về Sài Gòn hoạt động cách mạng và bị thực dân Pháp bắt, kết án 10 năm tù và đày đi Côn Đảo, năm 1936 ra tù, đồng chí được trả tự do và ra Hà Nội tham gia hoạt động công khai. Năm 1940, đồng chí vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Hoạt động cách mạng liên tục trên 70 năm, đồng chí đã có nhiều công lao to lớn đối sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Đồng chí mất đi là một tổn thất đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Để tỏ lòng tưởng nhớ và biết ơn đồng chí Phạm Văn Đồng Đồng, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Chính phủ nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam quyết định tổ chức tang lễ đồng chí Phạm Văn Đồng với nghi thức Quốc tang. Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam, quốc hội nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Chính phủ nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Lễ viếng đồng chí Phạm Văn Đồng được tổ chức trọng thể tại Nhà tang lễ số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội, bắt đầu từ 7 giờ ngày 5 tháng 5 năm 2000. Lễ truy điệu bắt đầu từ 8 giờ ngày 6 tháng 5 năm 2000. Lễ an táng đồng chí Phạm Văn Đồng được tiến hành cùng ngày tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội. Cùng thời gian lễ truy điệu tại Hà Nội, tiến hành lễ truy điệu đồng chí Phạm Văn Đồng tại trụ sở Tỉnh ủy Quảng Ngãi. Trong 2 ngày tang lễ đồng chí Phạm Văn Đồng vào ngày 5 và ngày 6 tháng 5 năm 2000, các công sở, các nơi công cộng treo cờ rủ và ngừng các hoạt động vui chơi, giải trí.
Ban Lễ Tang -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Hai bộ phim về Việt Nam của điện ảnh Mỹ

Nhân dịp kỷ niệm 25 năm ngày kết thúc chiến tranh tại Việt Nam, các nhà làm phim Mỹ của hãng American Radio Works, một trong những hãng phim tài liệu lớn nhất nước Mỹ đã phối hợp với một số hãng khác cho ra đời hai bộ phim tài liệu với tiêu đề “Thăm lại Việt Nam” và Việt Nam một đất nước, không phải một chiến trường. Bộ phim thứ nhất dựa trên những đoạn băng ghi âm của một binh sỹ Mỹ đã tử trận ghi lại những nhận xét về cuộc chiến tranh, và đoạn kết nói về nguyên nhân dẫn tới phong trào chống chiến tranh Việt Nam trong lòng nước Mỹ, giúp nhân dân Mỹ nhìn ra sự thật về cuộc chiến. Bộ phim thứ hai nói về cuộc sống đang ngày một đổi mới diễn ra trên khắp mọi miền đất nước của Việt Nam ở cả thành thị lẫn nông thôn do các nhà làm phim của ARW vừa quay tại Việt Nam trong tháng 2 vừa qua. Hai bộ phim này sẽ được chiếu từ 26 tới ngày 30 tháng 4 trên các kênh truyền hình của các thành phố lớn ở Mỹ: Boston, Seattle, Washington, Minnesota, San Francisco, Los Angeles, San Dieogo, New York, Philadephia….
Thành lập nhà trưng bày sản phẩm kinh tế
Vào cuối tháng 4 năm 2000, Nhà trưng bày sản phẩm kinh tế do Trung tâm xúc tiến thương mại Hà Nội tổ chức sẽ được khai trương tại số nhà 397 Tây Sơn trên diện tích khoảng 420 mét vuông, bao gồm chợ thông tin, tập trung và chợ hiện vật trưng bày các sản phẩm hàng hóa của Hà Nội và các địa phương có quan hệ kinh tế – thương mại với Hà Nội. Tham gia giới thiệu vào đây, các doanh nghiệp sẽ được cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình một cách nhanh chóng và chính xác. Như vậy các doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được thời gian các chi phí đi lại truy cập mạng… Nhà trưng bày sản phẩm kinh tế là một mô hình mới, sẽ có sức hấp dẫn cho doanh nghiệp tham gia nhằm tiếp cận nhanh với các thị trường trên toàn thế giới, thúc đẩy quá trình hương mại điện tử ở Việt Nam, giảm được tối đa các chi phí tiếp thị quảng cáo, tìm kiếm bạn hàng.
Khai trương chi nhánh Công ty Du lịch Bình Định tại Đà Nẵng
Vừa qua, Sở Thương mại Du lịch Bình Định, Công ty Du lịch Bình Định đã làm lễ khai trương Văn phòng chi nhánh Công ty Du lịch Bình Định tại 67 Lê Độ – Đà Nẵng. Trong điều kiện nguồn khách đến Bình Định còn hạn chế, việc mở thêm chi nhánh Công ty tại Đà Nẵng sau văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh là việc làm nối dài thêm tầm hoạt động của Công ty trên phạm vi cả nước. Đặc biệt khi Đà Nẵng đã và đang phát triển thành vị trí trung tâm phát triển kinh tế của miền Trung là của ngõ thứ 3 để khách quốc tế vào Việt Nam.
Cần Thơ xe chở khách Du lịch vào Trung tâm tỉnh lỵ không phải xin phép
Theo tin từ Ủy ban nhân dân tỉnh Cần Thơ kể từ tháng 4 năm 2000 các loại xe chở khách du lịch đến Cần Thơ được phép vào thẳng trung tâm tỉnh lỵ, đến các khách sạn mà không chỉnh phải xin phép của cảnh sát giao thông. Song khi các xe chở du khách vào Trung tâm Thành phố Cần Thơ phải di chuyển và đỗ đúng nơi quy định. Chủ trương này sẽ khắc phục tình trạng nhiều khách du lịch phải rời xe đò, xe buýt để đi xe lôi đến các khách sạn ở trung tâm tỉnh lỵ, do các xe chở du khách muốn vào trung tâm Thành phố Cần Thơ phải xin giấy phép của cảnh sát giao thông.
ND-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 25(129)2000.

Du lịch Việt Nam sức bật mới tiến vào thế kỷ mới

So với năm 1998 trong năm 1999 hoạt động du lịch cả nước vẫn liên tục đối mặt với nhiều khó khăn không kém. Thế nhưng sau một năm phấn đấu bền bỉ, Du lịch Việt Nam chẳng những chặn đứng được đà giảm sút nhịp độ tăng trưởng mà còn tạo được một sức bật mới để tăng tốc trên con đường tiến vào thế kỷ mới. Động lực nào đã giúp ngành kinh tế tổng hợp này phát triển mạnh như vậy.
Những tín hiệu vui
Biểu đồ phát triển của Du lịch Việt Nam năm 1999 được đánh dấu bằng các tín hiệu vui: toàn ngành đón được 1,78 triệu lượt khách quốc tế, đạt 111,25% kế hoạch năm, vượt 17% so với năm 1998. Lượng khách du lịch nội địa đạt trên 10 triệu lượt người, tăng 4,1% so với năm 1998. Thu nhập xã hội từ du lịch đạt 15,6 nghìn tỷ đồng, đạt 108,8% kế hoạch năm, vượt 15,6% so với năm 1998. Các chỉ tiêu kinh doanh khác cũng như mức nộp ngân sách đều đạt mức tăng đáng kể?
Trong bối cảnh nền kinh tế chung của cả nước tăng trưởng chậm do hậu quả nặng nề của thiên tai liên tiếp trên diện rộng và tác động bất lợi từ khủng hoảng tài chính trong khu vực, thì những con số trên càng khẳng định giá trị về tốc độ phát triển du lịch. Ngành kinh tế tổng hợp này đã vượt qua những thách thức bằng bí quyết nào? Trước hết, đó là nhờ một hệ thống chính sách phát triển hợp lý. Ngay từ đầu năm 1999, Du lịch Việt Nam đã liên tiếp đón nhận hàng loạt tin vui: Pháp lệnh Du lịch được ban nhành, ban chỉ đạo Nhà nước về Du lịch được thành lập, Chương trình hành động quốc gia về Du lịch được công bố. Dưới sự hướng dẫn của Tổng cục Du lịch, 30 tỉnh, thành phố đã thành lập Ban chỉ đạo Du lịch, xây dựng chương trình hành động du lịch của địa phương. Như một cú huých dây chuyền, các chính sách này còn thúc đẩy sự quan tâm của các Bộ, ngành liên quan đối với Du lịch, kéo theo những cải tiến trong thủ tục cấp visa, xuất nhập cảnh, vận chuyển khách, thủ tục hải quan… Với sự năng động vốn có, các doanh nghiệp trong ngành Du lịch đã đón nhận các chính sách mới, mau chóng mở ra nhiều chương trình du lịch hấp dẫn khách. Các tour du lịch sinh thái dài ngày trên Vịnh Hạ Long, sông Đồng Nai, trên sông Vàm Cỏ Đông, các tour du lịch xuyên Việt, tuyến Hải Phòng – Hải Nam (Trung Quốc), các tour dã ngoại, du lịch mạo hiểm… đã được mở và thu hút nhiều khách quốc tế. Đáng chú ý, tầm nhìn trong kinh doanh của ngành đã được mở rộng hơn thông qua triển khai và xây dựng dự án mở tuyến du lịch Trường Sa và Trường Sơn con đường huyền thoại, cũng như nghiên cứu mở tuyến du lịch đường sông Thành Phố. Hồ Chí Minh – Phnom Pênh. Năm 1999 cũng có thể coi là năm tuyên truyền quảng bá của ngành Du lịch. Ngoài tham gia các hội chợ du lịch quốc tế tại Đức, Hàn Quốc, Pháp Nhật, Lào, Singapore, lần đần tiên trong nhiều năm qua, Du lịch Việt Nam đã hiện diện tại Hội chợ du lịch quốc tế do Tổ chức Du lịch thế giới tổ chức tại Anh. Hình ảnh Du lịch và Hàng không cùng gắn kết trong một ngôi nhà chung Việt Nam tại các hội chợ cũng như sự ra đời của các văn phòng đại diện tại nhiều nước làm cho hình ảnh đất nước, con người Việt Nam và các nội dung của Chương trình hành động quốc gia về Du lịch ngày càng rõ nét trên thị trường du lịch của nhiều quốc gia. Ngay ở trong nước cũng diễn ra nhiều hoạt động mang ý nghĩa và hiệu quả thiết thực như thi bình chọn thời trang, người đẹp của Sở Du lịch Hải Phòng, Liên hoan bình chọn thời trang, hoa hậu hữu nghị Asean và thế giới… Đặc biệt, Sở Du lịch Hà Nội và Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh đã tiên phong trong tổ chức hai hoạt động lớn là Liên Du lịch Hà Nội năm 1999 và Liên hoan gặp gỡ đất phương Nam thu hút hàng trăm lượt người tham gia. Chính tạo được sự đồng bộ trong phát triển, nên dễ hiểu lượng khách mà Du lịch Việt Nam đón được trong năm qua đã tăng vọt hơn so với năm trước, trong đó lượng khách du lịch Trung Quốc và khác tàu biển có mức tăng mạnh nhất. Đón nhiều khách, hoạt động kinh doanh khách sạn và các dịch vụ khách cũng khởi sắc theo. Năm 1999 công suất sử dụng phòng khách sạn bình quân cả nước đạt 44% tăng 23% so với năm trước. Những tháng cuối năm có nhiều khách sạn đạt tới tỷ lệ từ 70% đến 80% phòng có khách.
Hoàng Thu -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 8(112)2000.

Trưng bày một số sưu tập về Đảng Cộng Sản Việt Nam

Nhân kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 22 tháng 1 năm 2000. Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đã khai mạc phòng trưng bày giới thiệu bốn sưu tập hiện vật về Đảng Cộng sản Việt Nam với hơn 200 hiện vật còn nguyên trạng về Văn Kiện, báo chí, truyền đơn của Đảng, ảnh tư liệu, bút tích của các cán bộ lãnh đạo Đảng, Kỷ vật của các chiến sỹ cộng sản, tình cảm của nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế đối với Đảng. Đây là bộ sưu tập vô cùng quý giá vừa cung cấp tư liệu cho các nhà nghiên cứu, vừa giúp công chúng thấy được các hình ảnh, hiện vật ít có dịp công bố về hoạt động của Đảng, về các nhà lãnh đạo, các chiến sĩ cộng sản trong quá trình hoạt động lịch sử gắn một thế kỷ qua.
Tổng thư ký cơ quan phi chính phủ Luxembuorg làm việc với Tổng cục du lịch
Ngày 25 tháng 1, tại cơ quan Tổng cục Du lịch ông Eric Driesen, Tổng thư ký cơ quan phi Chính phủ Luxembourg đã tới thăm và làm việc với Tổng cục Du lịch Việt Nam cùng đi có ông Dư Thanh Khiêm. Ông Phạm Từ, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch và ông Nguyễn Văn Thiêm, Vụ trưởng vụ tổ chức cán bộ và đào tạo đã làm việc với Đoàn. Hai bên trao đổi những thông tin cần thiết về sự phát triển của ngành Du lịch. Việt Nam đặc biệt nhấn mạnh đến sự tăng trưởng gần đây của ngành du lịch Việt Nam, nhất là từ khi có dấu hiệu hồi phục sau cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Đông Nam Á. Ông Phạm Từ cảm ơn sự quan tâm của Chính Phủ Luxembourg đã tài trợ cho sự phát triển của ngành Du lịch Việt Nam, mong muốn sự hợp tác, giúp đỡ cũng như tình cảm hữu nghị giữa Việt Nam và Luxempourg ngày càng phát triển tốt đẹp hơn. Ông Eric Driesen đánh giá cao cơ sở hạ tầng của ngành Du lịch Việt Nam và tỏ ý sẽ cố gắng làm cho Chính Phủ cũng như tổ chức phi Chính phủ Luxembourg hiểu rõ đất nước Việt Nam, giúp đỡ nhiều hơn nữa cho Việt Nam trên các lĩnh vực. du lịch xóa đói giảm nghèo, nhất là việc nâng cao chất lượng tuyền truyền quảng bá về du lịch Việt Nam ra thế giới.
Khách sạn đầu tiên ở Việt Nam đạt tiêu chuẩn quốc tế Iso 14001
Ngày 26 tháng 1 năm 2000, khách sạn Hà Nội Daewoo đã tổ chức lễ đón nhận Chứng chỉ hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 14001. Đây là khách sạn đầu tiên ở Việt Nam được tổ chức quản ý kiểm định quốc tế công nhận đạt tiêu chuẩn quốc tế ISO 14001. Hà Nội Daewoo là một khách sạn 5 sao với 411 phòng. Ngay từ những ngày đầu đi vào hoạt động, khách sạn đã quan tâm đặc biệt tới vấn đề bảo vệ, giữ gìn môi trường, giảm thiểu ô nhiễm bên trong và xung quanh khách sạn. Từ giữa năm 1999 khách sạn chính thức áp dụng hệ thống quản lý môi trường, việc áp dụng hệ thống quản lý này đã tiết kiệm cho khách sạn hàng chục nghìn đô la Mỹ. Được biết, công suất sử dụng phòng của khách sạn năm qua đạt bình quân 40% riêng khu căn hộ cho thuê đạt trên 60%.
M.H -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 8(112)2000.

Triển vọng du lịch toàn cầu năm 2000 và thế kỷ 21

Trong suốt một thập kỷ qua, bất chấp cuộc khủng hoảng kinh tế tại châu Á trong hai năm 1997 và 1998, ngành du lịch toàn cầu vẫn đạt tốc độ phát triển từ 5 đến 7% mỗi năm, cao gấp đôi mức tăng của nền kinh tế toàn cầu. Số người đi du lịch ra nước ngoài tăng từ 600 triệu người năm 1997 lên 647 triệu năm 1998, năm 1999 là khoảng 700 triệu người và dự báo sang năm 700 triệu người và dự báo sang năm 2000 là khoảng 780 triệu người để đến năm 2010 sẽ vượt ngưỡng là 1 tỷ người, năm 2020 sẽ vượt ngưỡng là 1,5 tỷ người Số tiến mà du khách chi cho các chuyến du lịch cũng sẽ tăng từ 450 tỷ đô la Mỹ năm 1998 sẽ tăng lên là 550 tỷ trong năm 2000 và 1.500 tỷ đô la Mỹ vào năm 2010 và năm 2020 sẽ là 2 nghìn tỷ đô la Mỹ. Năm 1997, doanh thu từ du lịch chiếm 8% kim ngạch mậu dịch toàn cầu. Tuy kim ngạch buôn bán thế giới tăng 3,5% mỗi năm, nhưng đến năm 2000, doanh thu du lịch sẽ chiếm 10% kim ngạch mậu dịch toàn cầu. Với mức gia tăng như vậy sau 20 năm nữa du lịch sẽ trở thành ngành kinh tế hàng đầu của thế giới. Sự gia tăng của du lịch đã kéo theo nó cùng phát triển và cũng được sự hỗ trợ của nhiều ngành kinh tế khác. Giao thông – vận tải, viễn thông, mạng internet, xây dựng, văn hóa… Một công trình nghiên cứu của Tổ chức hàng không thế giới công bố cuối năm 1999 cho biết từ nay đến năm 2020, thế giới cần khoảng 40 nghìn máy bay đến 50 nghìn máy bay mới và có xu hướng phát triển các máy bay cỡ lớn có từ 5 trăm đến 7 trăm ghế để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của hành khách, mà chủ yếu là du khách Aibus hãng chế tạo máy bay chở khách lớn thứ hai thế giới cho biết đã nhận được các hợp đồng chế tạo 19.106 máy bay từ nay đến năm 2010. Với hãng Boeing, số hợp đồng trong thời gian này là trên 23 nghìn chiếc. Với sự phát triển nhanh chóng của mạng internet, việc đặt chỗ, hợp đồng du lịch sẽ trở nên dễ dàng hơn nhiều và đây cùng với sự phát triển ổn định của hầu hết các nền kinh tế, làm thu nhập của mọi người sẽ tăng mạnh, sẽ là những điều kiện thuận lợi để du lịch phát triển. Cho đến nay, Châu Âu vẫn là khu vực đứng đầu thế giới về số người đi du lịch, đón du khách và thu nhập từ du lịch, hiện chiếm gần một nửa số người đi du lịch và thu nhập của du lịch toàn cầu. Tuy nhiên với mức tăng là 3,1% trong một thập kỷ qua, thấp hơn mức tăng toàn cầu đã đưa thị phần của châu u giảm từ 50% xuống còn 45%, trong khi khu vực Đông Á – Thái Bình Dương đang nổi lên như là khu vực sẽ chiếm thị phần lớn trong tương lai. Một thập kỷ qua, với mức tăng tỷ lệ thị phần của mình từ 18 lên 27% vươn lên vị trí thứ hai và đẩy châu Mỹ xuống vị trí thứ ba và có thể sẽ chiếm đến 40 đến 45% vào năm 2010, trở thành khu vực thu hút nhiều du khách nhất thế giới. Ở châu Á – Thái Bình Dương, Trung Quốc với lợi thế là một trong những nền văn minh rực rỡ nhất của nhân loại với 23 khu được công nhận là di sản thế giới một số lượng ít nước địch nổi và là một địa chỉ chưa được khám phá, đang nổi lên và sẽ là siêu cường lớn nhất trên bản đồ du lịch thế giới. 10 nước Đông Nam Á nay thống nhất trong tổ chức Asean cũng đang nổi lên như một vùng du lịch hấp dẫn đối với không chỉ du khách bên châu u xa lạ mà còn là mục tiêu khám phá của du khách vùng Đông Bắc Á giàu có. Chính vì tiềm năng to lớn này mà hợp tác về du lịch là một trong những chương trình trọng tâm được đưa ra từ lâu trong khối Asean. Kể từ khi Aseanta được thành lập năm 1971 đến nay, tốc độ tăng trưởng du lịch của Asean là 8,5% cao gần gấp đôi so với mức tăng trưởng của du lịch toàn cầu. Năm 1996, trước khi xảy ra khủng hoảng kinh tế của nhiều nước Asean, 7 nước thành viên Asean kể cả Việt Nam đón 30 triệu du khách quốc tế, đạt doanh thu là 30,9 tỷ đô la mỹ, chiếm 7,31% doanh thu du lịch toàn cầu. Sau hai năm giảm mạnh vì khủng hoảng năm 1999 du lịch Asean đã hồi phục và có nhiều điều kiện tăng trưởng mạnh trong các năm tiếp theo. Các chuyên gai dự báo năm 2000, các nước Asean sẽ đón trên 40 triệu du khách quốc tế và có thể đạt 80 triệu du khách vào năm 2010. Cũng theo các chuyên gia của WTO, năm 2000, các dòng du khách chính sẽ là từ châu u sang Châu Mỹ. Khoảng 65 triệu người so với năm 1997 là 19,5 triệu người, từ châu u sang Đông Nam Á – Thái Bình Dương – 47 triệu người là 10,4 triệu người, từ Đông Nam Á – Thái Bình Dương sang châu Âu là 47 triệu, từ châu Mỹ sang châu u là 44 triệu người từ Đông Nam Á sang châu Mỹ là 42 triệu người từ Đông Nam Á sang Châu Mỹ là 42 triệu người, từ châu Âu sang Trung đông là 22 triệu người, từ châu Mỹ sang Đông Nam Á – Thái Bình Dương là 20 triệu người, từ châu Âu sang châu Phi là 19 triệu người, từ Châu Phi sang Châu u là 11 triệu người từ châu u sang Nam Á là 10 triệu người. Rõ ràng là khu vực Đông Á kể cả Đông Nam Á đang nổi lên như là thị trường du lịch lớn của thế giới.
Nguyễn Chiến -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 7(111)2000.