Người Thái Lan du lịch Thái Lan

– Thái Lan: thượng tuần tháng 7, các bộ trưởng kinh tế trong nội các Thái Lan họp xem xét một khoản ngân sách đặc biệt 195 triệu Baht do Cơ quan du lịch Thái Lan đề xuất mở rộng thị trường du lịch và thảo luận đề nghị của Cơ quan du lịch Thái Lan về những biện pháp thúc đẩy du lịch trong nước thông qua chương trình “người Thái Lan du lịch Thái Lan” nhằm khắc phục tình trạng người Thái Lan đi du lịch nước ngoài tăng lên.
Trong 6 tháng đầu năm nay, sự phục hồi kinh tế và sự cạnh tranh về du lịch của các nước và lãnh thổ láng giềng như Singapore, Hong Kong….khiến người Thái Lan đi du lịch nước ngoài nhiều hơn. Đặc biệt trong tháng 3/1999 có tới 370.000 người, tăng 15,85 so với cùng kỳ năm ngoái. Dự đoán trong cả năm 1999, Thái Lan sẽ có khoảng 1,7 triệu người đi du lịch nước ngoài, tăng 20% so với năm 1998. Với mức tiêu dùng bình quân 3.000 Bạt/người thì số tiền mà du lịch Thái Lan bị “thất thoát” không dưới 67 tỷ Bạt trong năm nay. Năm ngoái số người Thái Lan đi du lịch nước ngoài giảm 14,9% so với năm 1997.
Theo Giám đốc Cơ quan du lịch Thái Lan, trong 5 tháng đầu năm 1999, số khách du lịch nước ngoài đến Thái Lan là 2,5 triệu người, tăng 10,04% so với cùng kỳ năm ngoái.
– Trung Quốc: ngày 3/7, một chiếc tàu chở hơn 40 hành khách đang lưu hành trên sông Phú Giang thuộc tỉnh Tứ Xuyên đã đâm vào một chiếc cầu sắt làm toàn bộ số hành khách đều bị nhấn chìm. Mặc dù các biện pháp cứu trợ đã triển khai khá nhanh chóng song cũng chỉ có 12 hành khách được cứu sống còn khoảng 3 chục người còn lại đã bị dòng nước cuốn trôi mất tích. Sau hai ngày tìm kiếm hiện mới chỉ phát hiện được xác của 3 nạn nhân trong số những người bị mất tích nói trên.
– Bungari: Chính phủ Bungari đã quyết định từ 0h ngày 5/7 thay đổi mệnh giá đồng tiền quốc gia – mệnh giá đồng tiền hiện nay sẽ được bỏ đi ba số không: đồng 1.000 lêva cũ theo mệnh giá mới sẽ là 1 lêva.
Theo khuyến nghị của Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF), từ 1/7/1997, ửo Bungari đã thực hiện chế độ của Hội đồng tiền tệ – đồng lêva Bungari bị “ràng buộc” và đồng Mác Đức – 1 Mác luôn luôn bằng 1.000 lêva. Nhưng tỷ giá đồng đôla vẫn sẽ thả nổi. Sau khi thay đổi mệnh giá đồng lên lêva, 1 Mác Đức sẽ bằng 1 lêva
– Kenya: Kể từ ngày 1/7, Kenya cho phép các du khách đến từ Mỹ, Anh, Bỉ, Pháp, Thụy Sĩ, Luychxembua và Hà Lan đến thăm nước này dưới 30 ngày không cần phải xin visa. Kenya cũng đang chờ đợi một sự cho phép tương tự từ Mỹ, Nhật, Canada, Australia, New Zealand và Austria đối với các du khách của mình.
Vụ đánh bom khủng bố gần Đại sứ quán Mỹ tại Nairobi (thủ đô Kenya) tháng 8/98 đã làm cho nhiều du khách Mỹ và phương Tây ngại đến Kenya. Cả năm 1998, có 894.000 du khách nước ngoài đến Kenya, giảm 10,6% so với năm trước và là mức thấp nhất kể từ 1993.
Nguyễn Chiến – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Đôi nét đời sống tình ái 2500 năm trước ở Hy Lạp

Vào cuối thế kỷ thứ V trước công nguyên, cuộc chiến tranh giữa Athènes và Sparte kéo dài, đàn ông phải ra trận, đàn bà ở hậu phương nằm ngoài vòng kiểm soát của chồng, do đó chỉ một số rất nhỏ kiên nhẫn chờ chỗng, số đông nhảy vào những cuộc phiêu lưu tình ái mới. Vấn đề được đặt ra là có nên lên án đám phụ nữ ngoại tình này không ? Euripide (480 – 406 TCN) thi sĩ đại tài, người có uy tín, rất thẳng thắn trong việc lên án thói hư của phụ nữ nhưng do thời thế ông đã thay đổi cách nhìn, ông nói: “Người đàn ông hy sinh tính mạng vì tổ quốc là điều đáng trân trọng, nhưng chửa đẻ còn khó nhọc và nguy hiểm hơn ra trận gấp ba lần !”.
Còn nhà thơ, nhà viết kịch vĩ đại Aristophane (445 – 386 TCN) lại đưa quan điểm bênh vực phụ nữ của mình vào hài kịch Lysistrata. Nhưng nhân vật nữ trong kịch đều kiên quyết đòi đàn ông chấm dứt chiến tranh, đồng tình đóng cửa phòng nếu chồng là chiến binh từ mặt trận trở về gọi cửa. Nhưng trong số những nhân vật nổi tiếng đứng ra bênh vực quyền lợi và bào chữa cho phụ nữ thì tiếng nói của đại danh y Hippoerate (460 – 377 TCN) gây được nhiều ấn tượng hơn cả. Ông đã đứng trên quan điểm y học để phân tích mọi chứng bệnh tâm lý xã hội của phụ nữ Hy Lạp thời bấy giờ thường bắt nguồn từ khủng hoảng thiếu về phương diện sinh lý, ông nói: “Cơ quan sinh dục chính yếu của phụ nữ là tử cung, nếu nó không thường xuyên được dịch tinh trùng của đàn ông thấm ướt thì hậu quả là máu sẽ dồn vào những phần trên cơ thể gây ra tình trạng xáo trộn trí thông minh, đồng thời làm phát sinh những chứng bệnh như khó thở, hay xúc động, trầm uất, nóng nảy…”. Trên thực tế, một số phụ nữ mắc những chứng bệnh về tâm sinh lý ấy đã khỏi hẳn sau khi lấy chồng. Phương pháp chữa trị hiệu nghiệm và hoàn toàn không dùng đến thuốc của ông vẫn được áp dụng rộng rãi mấy nghìn năm nay.
Nhưng thực kỳ lạ, khi cuộc chiến kết thúc, người chồng đã trút bỏ binh phục trở về với cuộc sống gia đình mà tình trạng hôn nhân bê bối trước đó vẫn không hề được cải thiện; cụ thể, đàn ông có vợ thì hờ hững chuyện chăn gối, lớp trai tân thì không có đếm xỉa đến chuyện kết hôn, đó là nguyên nhân đầy đám đàn bà con gái vào dòng xoáy tình ái tự do buông thả, những vụ ly dị xảy ra ngày càng nhiều cũng là hậu quả tất yếu.
Nhưng rốt cuộc người ta cũng đã tìm ra nguyên nhân: Athènes thua trận, kinh tế bị suy sụp, nhiều người không tìm được việc làm, giá cả hàng hóa, sinh hoạt đắt đỏ… Cả xã hội đi vào chiều hướng bế tắc; đàn ông thì mệt mỏi chán chường, đàn bà trượt dài trên bờ dốc tha hóa. Nhà nước dân chủ Hy Lạp quyết định sửa đổi lại địa vị pháp lý cho người phụ nữ, đem đến cho họ quyền ưu đãi giáo dục và dân chủ, vận động họ tham gia các hoạt động xã hội. Nhà triết học Socrate (470 – 347 TCN) đặt ra yêu cầu cao hơn, đòi một sự bình đẳng toàn diện về pháp lý giữa vợ và chồng. Ông đề nghị phải có một bộ luật hoàn chỉnh gồm những điều khoản chi tiết rõ ràng nhằm ngăn chặn và trừng phạt mọi công dân Athènes có những quan hệ sinh lý bất chính, không dung túng ngoại tình – nói rõ hơn là quan hệ tình dục với người đàn bà không phải vợ mình dưới bất cứ hình thức nào.
Hình như, để hạn chế tính phóng đãng của những phụ nữ đã có chồng, mà chủ yếu là phụ nữ thuộc tầng lớp trên, luật pháp thời ấy còn cấm ngặt họ đến vận động trường Ôlempie (Jeux Olympiques), lý do dễ hiểu là con đường dẫn đến Đại vận hội phải đi ngang qua thành Corinthe là nơi có nhiều tự điểm ăn chơi sa đọa…
Duy Nghĩa-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Bọn bất lương gieo rắc “cái chết trắng” bằng cách nào?

Vẫn biết ma túy là thứ nguy hiểm gây chết người, đã bị đưa vào loại cấm lưu hành, tàng trữ và sản xuất dưới mọi hình thức song vì số tiền lãi siêu lợi nhuận nên nhiều kẻ bất chấp sự trừng trị nghiêm khắc của pháp luật, cứ lao vào kinh doanh mặt hàng gắn liền những “cái chết trắng” này.
Thường mỗi khi bị động hoặc cất chuyển hàng từ nơi này đến nơi kia hoặc vì một lý do nào đó mà chưa tiêu thụ được hoặc muốn bán xé lẻ để ăn đầy hơn thì bọn buôn bán ma tuý bao giờ cũng phải có chỗ cất giấu. Và trong hàng năm thủ đoạn, mánh khoé để cất giấu ma tuý thì chẳng có thủ đoạn nào giống thủ đoạn nào.
Đỗ Bá Dục (Sinh năm 1946) ở số nhà 18, tổ 14, phường Phúc Tân, giao du với nhiều đối tượng có tên trong danh sách nghiện hút. Bản thân hắn cũng là con nghiện, ít ra một ngày cũng phải xài hết vài “bi”. Mà cái chuyện đã đâm đầu vào hút thuốc phiện, chỉ có ngày một mạt vận chứ chẳng thể ngóc đầu lên được. Ấy vậy mà không hiểu sao bỗng dưng tên Dục lại có đồng ra, đồng vào, ăn tiêu rủng rỉnh. Hắn chẳng có nghề ngỗng gì rõ ràng. Dân phố chỉ thấy, cứ sâm sẩm tối (toàn sâm sẩm tối) là hắn vẫy xe xích lô đến tổ 10 – một địa bàn công cộng khá phức tạp – diễu quanh mấy vòng rồi về. Khi bị công an phường phục kích bắt, lúc đó mọi người mới biết Dục thuê xích lô đi bán heroin như kiểu bán hàng rong. Chính vì bán cái chết trắng bằng cách lưu động như vậy mà hắn đã che mắt được mọi người và các cơ quan luật pháp khá lâu.
Thời gian gần đây trước sự truy quét ráo riết của công an Thành phố Hà Nội, những thủ đoạn vận chuyển, cất giấu, mua bán ma tuý mỗi ngày càng được nâng cấp tinh vi.
Tên Hà Huy Lương (Sinh năm 1969) ở 46 Hàng Gai từng có 3 tiền sự về tội sử dụng ma tuý và gây rối trật tự công cộng nên tất cả những biến đổi lạ, nhỏ của y đều bị nhân dân quanh khu vực để ý. Vì vậy khi thấy tên Lương vốn rất lười và sợ xuất hiện trước đám đông nhưng lại bỗng dở chứng thích đi bát phố, gặp gỡ bạn bè (toàn là con nghiện) thì một số đối tượng nghiện hút, lầm lỡ đã được cảm hoá tới báo cho công an biết. Qua theo dõi, các trinh sát phường Hàng Gai thấy trong lúc đi dạo, tên Lương luôn luôn có một bao thuốc lá ở trong túi áo, gặp những thằng bạn trên đều rút mời. Câu hỏi tại sao một kẻ từng được bạn bè gắn cho câu “vắt cổ chày ra nước” lại tự dưng hào phóng như vậy, đã được nhanh chóng trả lời sau đó không lâu. Thì ra từng gói nhỏ heroin được tên lương nhét vào trong bao thuốc lá (một bao nhét được 37 gói) lúc gặp bạn nghiện là rút ra bán với giá 40.000 đ/gói. Nếu một ngày bán hết một bao, tên lương sẽ kiếm được bình quân khoảng 300 nghìn tiền lãi.
Tháng 5 năm 1999, trong số các vụ buôn bán heroin mà công an Thành phố Hà Nội bắt được thì thủ đoạn cất giấu ma tuý của vợ chồng Hoàng Quốc Hải (ở 49, Ái Mộ 2, thị trấn Gia Lâm) cũng thuộc dạng cáo già. Chúng chia heroin thành từng liều nhỏ, bỏ xuống đáy chậu trồng cây cảnh, sau đó đổ đất vào, rồi dùng cây có gốc đặt lên trên. Khi khách quen tới mua (người lạ không bao giờ bán) mới ra lấy, sau đó nguỵ trang lại như cũ.
Bên cạnh những gã thanh niên dặt dẹo, những tên đàn ông râu xồm tóc bù chuyên sống bằng nghề buôn ma tuý và chúng xác định “vào tù, ra trại chỉ là giấc nghỉ trưa” thì các bầy đàn phụ nữ cũng tỏ ra không hề kém cạnh trong sự ganh đua đi gieo vãi cái chết người này cho đồng loại. Có khi trong một số trường hợp ở một số bối cảnh, bọn nữ quái này còn lợi thế hơn đàn ông.
Nguyễn Thị Hồng Hương (Sinh năm 1967) ở ngõ 190, tổ 10, phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân đã biết dùng thủ đoạn chửa đẻ liên tục để buôn bán heroin. Vì vậy mà mấy lần bị công an bắt, thị đều được hoãn thi hành án. Cứ thế, lợi dụng chính sách nhân đạo của pháp luật, Nguyễn Thị Hồng Hương đã sòn sòn tái phạm buôn bán ma tuý rất nhiều lần. Trước sự quá quắt của thị, buộc các cơ quan pháp luật phải bắt, cách ly thị với đàn ông, không cho chửa, đẻ để rồi mãi tới cuối năm 1998, toà án lôi cổ được thị ra trước vành móng ngựa và tuyên phạt 17 năm rưỡi tù giam.
Tuy nhiên sự trừng phạt nghiêm khắc đắt giá này vẫn không làm cho nhiều ả, nhiều mụ mở mắt lấy làm bài học để tỉnh ngộ, để hoàn lương. Hết tốp này đến tốp kia vẫn lao đầu vào những vòng xoáy của ma tuý và nghĩ ra thêm đủ các thủ đoạn mới để vận chuyển, tàng trữ cũng như trong cách mua bán. Hà Thị Phương (Sinh năm 1958) ở khu tập thể Cơ khí cầu đường phường Văn Chương, quận Đống Đa, có lần để qua được mặt công an nam, ả đã giấu thuốc phiện vào cả trong chỗ kín của phụ nữ. Khốn nạn nhẫn tâm hơn, người mẹ trời đánh Vũ Liên Nga (ở ngõ Tất Lộc – Hoàn Kiếm) đã lôi đứa con gái 14 tuổi trong trắng thơ ngây vào cuộc và thường bắt cháu đem heroin đi tới điểm tiêu thụ hẹn trước cho mụ bán, để tránh sự theo dõi phát hiện của công an.
Dù bọn chúng có những thủ đoạn tinh vi đến đâu, với sự giúp sức của nhân dân, lực lượng công an vẫn phát hiện, bắt giữ được, và buộc chúng phải nhận bản án xứng với tội ác đã gây ra cho xã hội.
Giang Thạch – Tuần Du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999

Đừng ép khán giả cười một cách vô duyên

Gần đây, các chương trình hài bung ra hàng loạt, chiếm tình cảm của khán giả: Đời cười 1, 2: Kẻ khóc người cười 1, 2; Danh hài 99…. Người ta tìm đến với chương trình để cười giải trí sau những giờ phút căng thẳng, mệt mỏi bởi những công việc thường nhật. Song, không còn háo hức như buổi đầu, khán giả đã dè dặt, chọn lọc hơn bởi đã thấy có dấu hiệu của sự lặp lại, nhàm chán trong các chương trình. Bởi thế, cuộc gặp gỡ của những “cây hài” Nam – Bắc trong chương trình “Bắc – Nam cùng cười” là điểm nhấn, cái mác đảm bảo kéo khán giả đến rạp, mặc dù giá vé không rẻ chút nào; 80.000 – 100.000đ
Gặp lại những gương mặt quen thuộc của “làng cười” Hồng Vân, Minh Nhí, Lê Vũ Cầu (Thành phố Hồ Chí Minh), Xuân Hinh, Đức Hải, Minh Vượng, Thanh Ngoan (Hà Nội)…trong 4 tiết mục hài. Đức Hải lại vào vai “phái yếu” – một bà già 72 tuổi vẫn chưa có chồng trong “già kén kẹn hom”. Không kể những miếng hài thô tục kiểu như: “lui ra – làm lệch của người ta mất rồi”… không thể gây cười, kiểu dáng “giả gái” của anh đã đến mức nhàm chán. Người ta thấy, dường như Đức Hải chỉ có thể gây cười nếu hóa thân thành người khác, và nếu thế thì anh sẽ không “trụ” được lâu ở sân khấu hài. Minh Vượng và Quốc Khánh đến với khán giả bằng tiểu phẩm “Vợ chồng dzởm”, kể về một nhà văn trẻ được đi nước ngoài với điều kiện phải “kèm bà vợ dzởm 40 tuổi, làm tài vụ đi cùng”. Tiếng cười từ đây khi những mâu thuẫn phải đóng giả vợ chồng phát sinh mặc dù Quốc Khánh là gương mặt hài mới (dẫu anh từng đóng rất nhiều phim và chính kịch) song bên cạnh cái sôi nổi, dí dỏm của Minh Vượng; cái tưng tửng, “như không” của anh khiến họ thành đôi bạn diễn ăn ý tuyệt vời, đem tiếng cười đến cho khán giả. Song, thành công nhất có lẽ phải kể đến tiết mục của 3 nghệ sĩ từ Thành phố Hồ Chí Minh. Thật không khổ danh là những “cây cười” xuất sắc khi cả 3 rất đều tay, diễn xuất rất có duyên, kẻ tung, người hứng được khán giả đồng cảm chia sẻ để cùng có tiếng nói chung là phê phán thói say xỉn. Từ chiếu chèo, Xuân Hinh và Thanh Ngoan đến với hài, vẫn áp dụng lối nói giọng hát thái quá khiến cho tiểu phẩm “Karaoke” không cười được. Cứ như một cô gái xinh song vô duyên, có nhiều chi tiết gây cười nhưng thiếu chất trí tuệ nên tiết mục cứ nhàn nhạt, hơn nữa lại quá dài. Hai người thay nhau hát hết bài này đến bài khác cốt để “khoe giọng”, còn chẳng gửi gắm được ý tứ gì.
“Bắc – Nam cùng cười” có ý tốt khi quy tụ diễn viên của hai miền Nam – Bắc. Đây cũng là cơ hội để giao lưu, học hỏi nhau. Lâu nay, người ta vẫn cho rằng: cái hài trong nam thiên về ngoại hình pha trò nhạt nhẽo, còn người Bắc vẫn tự hào với cái hài đầy chất trí tuệ của mình. Song với những được thấy, e rằng giữa hai miền Nam – Bắc đang có sự giao hoán? Phải chăng đã đến lúc những cây hài Bắc cần phải nhìn nhận lại “tiếng cười” của mình?
Ngọc Huyền – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Hoàng Thắng “cậu Trời” của những vai phản diện

10 năm rồi, kể từ khi phim Đêm hội Long Trì (đạo diễn: Nghệ sĩ nhân dân Hài Ninh) ra đời, 10 năm cái tên của cậu Trời gắn với Hoàng Thắng. Với khoảng 30 vai trong các phim truyện nhựa, 50 vai trong các phim video và truyền hình nhưng anh luôn nhớ đến nhờ vai diễn “cậu Trời” Đặng Lân đạt đến đỉnh cao nghệ thuật diễn xuất, khắc họa phản diện trác táng ác độc, mưu mô.
Khuôn mặt của Hoàng Thắng rất “ăn vai” phản diện và không chỉ vào loại vai ấy, đạo diễn mới yên tâm và khán giả mới ấn tượng về anh. Bản thân Hoàng Thắng là diễn viên rất say nghề, nhạy cảm trong cảm nhận kịch bản và hiểu ý đạo diễn lại biết tìm tòi sáng tạo cho vai diễn của mình. Anh quan niệm: “Tôi không phân biệt vai chính hay vai phụ, xuất hiện trên màn ảnh ít hay nhiều, là vai chính diện hay phản diện. Với tôi, chỉ vài phút xuất hiện cũng phải tạo ra một vài chi tiết diễn xuất có dấu ấn để khán giả nhớ”
Xem các vai phản diện của Hoàng Thắng, khán giả thấy ghét anh, rủa nhân vật của anh “chết đi” cậu Trời: thì bị chém chết, phàn trong đầm hoang (Đạo diễn: Hà Sơn) thì bị chết đuối, tên lừa đảo Lê Dụ trong 4 tập đầu phim Cảnh sát hình sự thì bị rơi từ nhà cao xuống và …chết. Thế nhưng có một điểm mới là sự xuất hiện gần đây của Hoàng Thắng (như trong Đầm Hoang, Cảnh sát hình sự) đã phả vào vai diễn cả hơi ấm, để khi nhân vật chết, khán giả cảm thấy có gì xót xa.
Sinh ngày 15-10-1954, là con trai của nữ Nghệ sĩ Nhân Dân kịch nói Trúc Quỳnh, Hoàng Thắng là người con duy nhất trong gia đình theo nghệ thuật theo sự hướng dẫn “quyết liệt” và đầy hy vọng của mẹ anh. Bởi các con của Nghệ sĩ kịch nói và một giáo viên trường Thiếu sinh quân toàn là kỹ sư, giáo viên, bác sĩ. Từng đi bộ đội, rồi học công nhân kỹ thuật. Sau đó Hoàng Thắng trở thành một trong những học viên xuất sắc khóa IV ( 1976-1980) trường sân khấu Việt Nam, là học trò của thầy Trần Minh Ngọc, Nguyễn Đức Đọc, anh là một diễn viên có khả năng đa dạng, có thể vẽ, diễn kịch, chơi ghi-ta.
Cứ nhìn thấy mặt anh, mắt dữ dằn, râu quai nón, là khán giả chắc mẩm thế nào “cậu Trời” cũng lại sắp “tung hoành” với vai “ nh chị”, đầu gấu tướng cướp hoặc lừa đảo. Hoàng Thắng thích đóng những vai nhỏ nhưng có chất, đọc vài dòng kịch bản thấy tính cách, hơn những vai chính mà khi đọc xong kịch bản chẳng hiểu nhân vật của mình là ai “cậu Trời” tâm sự nghề diễn viên không có vai tử tế hay vai không tử tế. Tôi chuyên nhận vai người không tử tế, nhưng tôi rất yêu và đối xử tử tế với những vai ấy. Chỉ có vai được thể hiện tử tế hay không mà thôi.
Hoàng Thắng không chỉ làm diễn viên, mà còn làm “bầu diễn viên”, bầu lồng tiếng, trợ lý, phó đạo diễn. Chẳng hạn anh vừa đóng vai chính, vừa là phó đạo diễn phim nhựa Đầm Hoang và rất nhiều phim khác. Nhận định về phim Việt Nam hiện nay, anh nói “Phim truyện nhựa bị hạn chế bởi kinh tế, kỹ thuật và “quan niệm”, nên nhiều phim sa vào minh họa. Phim truyền hình thì làm quá nhanh, quá nhiều. Khó tìm thấy trong các diễn viên trẻ hôm nay chất lửa trong diễn xuất như thế hệ diễn viên khóa I, khoá II. Họ “chạy sô” nhiều quá. Tôi thèm được làm cách phim truyền hình mang tính chuyên nghiệp cao như hồi bố con tôi làm phim mảnh đời của huệ của đạo diễn Nguyễn Hữu Phần – Phi Yến Sơn.
Ngoài đời, Hoàng Thắng hiền, hóm hỉnh và sống rất tình cảm. Vợ anh là chị Trần Thuý Nga, kế toán của hãng phim hoạt hình Việt Nam. Cả 2 con trai của “cậu Trời” đều đóng nhiều phim, cả phim nhựa và phim nước ngoài. Hoàng Chính Lâm (học lớp 9) và Hoàng Hải (học lớp 4).
Hạnh phúc của Hoàng Thắng, đó là một tổ ấm chan hòa tình yêu thương. Ngoài lúc đóng phim, anh điều vai ông chủ quán cả. Tất cả các khách sạn đến ăn tiệc, sinh nhật v.v… Ở quán “cậu Trời” , đều được đích thân ông chủ mang tặng một quả dưa hấu trạm trổ hoa văn, khắc tên quán Khánh Lâm cùng nụ cười nồng hậu. Để rồi đi đâu người ta cũng nhớ và gọi anh: nào là cậu Trời, nào là Tuân xe bò (trong Tướng về hưu – Đạo diễn Nguyễn Khắc Lợi), rồi Việt Kiều rởm trong Dịch cười – Đạo diễn Đỗ Minh Tuấn) lại thêm cả Lê Dụ nữa.
Thùy Linh – Tuần du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999

Du lịch Quảng Nam và các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn

Trong 2 ngày 2 và 3/8/1999, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam Võ Thị Thắng đã về làm việc với lãnh đạo tỉnh Quảng Nam và thành phố Đã Nẵng. Đồng chí đã nghe lãnh đạo tỉnh Quảng Nam báo cáo tình hình phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, tiếp xúc với lãnh đạo Sở Thương mại – Du lịch Quảng Nam và các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn, nghe các doanh nghiệp báo cáo tình hình kinh doanh, phát triển du lịch trong thời gian qua. Nghe lãnh đạo thành phố Đã Nẵng báo cáo một số tình hình kinh tế – xã hội của thành phố Đà Nẵng, những dự án lớn nhằm xây dựng Đà Nẵng thành một trong những trung tâm du lịch của miền Trung. Đồng chí Võ Thị Thắng đã đi thăm Khu du lịch Bà Nà, thánh địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội An; đồng chí đã đánh giá cao những nỗ lực của Quảng Nam và Đà Nẵng trong việc mở rộng không gian du lịch, đầu tư xây dựng, phát triển du lịch trong thời gian qua như khu du lịch Bà Nà (Đà Nẵng), việc đưa khu du lịch Thuận Tình (Hội An) vào hoạt động, việc giữ gìn phố cổ Hội An, khai thác các giá trị văn hóa cổ phục vụ du lịch song vẫn đảm bảo giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Trong chuyến làm việc này, đồng chí Tổng cục trưởng cũng đã nghe một số kiến nghị từ địa phương về chính sách đầu tư, giá thuê đất, giá lệ phí tham quan các khu du lịch, vốn cho phát triển du lịch…
Vân Thiêng
Tin trong nước
Thành phố Đà Lạt được chính phủ công nhận đô thị loại II
Trước đây, TP Đà Lạt đã được Chính phủ quy hoạch là 1 trong 10 trung tâm du lịch trọng điểm của Quốc gia. Ngày 24/7/1999 vừa qua, Phó Thủ tướng Ngô Xuân Lộc đã ký Quyết định số 158/1999/QĐ-TTg về việc “Công nhận thành phố Đà Lạt thuộc tỉnh Lâm Đồng là đô thị loại II”.
Đà Lạt có diện tích 403,9 km vuông, dân số 160.645 người (thời điểm tổng điều tra dân số 1/4/1999). Đà Lạt, hiện thu hút 10 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực, với tổng vốn đầu tư nước ngoài còn hiệu lực, với tổng vốn đầu tư hơn 800 triệu USD, chủ yếu vào các lĩnh vực du lịch, dệt len, may mặc, SX rau, hoa cao cấp.
Riêng về lĩnh vực du lịch, Đà Lạt hiện có 442 khách sạn (20 khách sạn 1-5 sao), 825 nhà nghỉ, nhà trọ (cùng 1 lúc đón được hơn 2 vạn khách du lịch / ngày). Trung bình mỗi năm, Đà Lạt đón hơn 600 ngàn lượt khách du lịch trong nước và quốc tế đến tham quan, nghỉ dưỡng. Hiện tại, Đà Lạt có hơn 50 điểm tham quan du lịch, trong đó có 7 thắng cảnh đã được bộ VHTT công nhận di tích LS – VH.
Các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân TP đang phấn đấu hết sức mình để Đà Lạt ngày càng đẹp hơn, khang trang, thanh lịch hơn, xứng đáng là thành phố du lịch trên núi nổi tiếng của Việt Nam và thế giới.
Tin, ảnh Hà Hữu Nết
Bò và biển
Thoạt đến Đá Nhảy, Lý Hòa
Lô nhô tưởng đá nhảy. Hóa ra…
Đàn bò của “bọ” đang… hóng mát
Cao hứng nổi lên, du khách hát
“Quảng Bình quê ta…” (!)
Tư Mã Quang-Tuần Du lịch-Tổng cục Du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Ban chỉ đạo nhà nước về du lịch họp phiên thứ hai

Ngày 7/8/1999, tại Hà Nội, Ban chỉ đạo Nhà nước về Du lịch đã họp phiên thứ hai dưới sự chủ trì của Phó Thủ tướng, Trưởng ban Chỉ đạo Nhà nước về Du lịch Nguyễn Mạnh Cẩm.
Tổng cục trưởng TCDL, Phó Ban Chỉ đạo Nhà nước về Du lịch Võ Thị Thắng đã báo cáo tình hình hoạt động của ngành Du lịch nhằm triển khai Pháp lệnh Du lịch, Chương trình hành động quốc gia về Du lịch và các sự kiện Du lịch năm 2000; một số kết quả bước đầu của sự phối hợp hoạt động giữa TCDL với các thành viên thuộc Ban Chỉ đạo Nhà nước về Du lịch gắn với nội dung đã được thông qua tại phiên họp thứ nhất (ngày 20/3/1999); đồng thời kiến nghị với Chính phủ và Ban chỉ đạo về việc tập trung giải quyết một số vấn đề còn vướng mắc trong qua trình triển khai hoạt động. Tổng cục trưởng Võ Thị Thắng đã nêu lên một số nội dung quan trọng trong kế hoạch hoạt động của những tháng còn lại năm 1999.
Một lần nữa, tại phiên họp này Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cẩm đã khẳng định tầm quan trọng của sự phối hợp liên ngành trong công tác thúc đẩy phát triển Du lịch, nhằm khai thác tốt tiềm năng du lịch to lớn của đất nước. Phó Thủ tướng đề nghị các thành viên Ban Chỉ đạo nên tập trung bàn biện pháp tháo gỡ những vấn đề mà TCDL kiến nghị, đồng thời thực hiện tốt chương trình 2 năm, trong đó có việc tổ chức các sự kiện du lịch gắn với lễ hội văn hóa dân tộc trong năm 2000.
Các thành viên tham dự phiên họp đã nhất trí cần phải giải quyết ngay những vấn đề mà TCDL kiến nghị, đó là: đảm bảo an ninh an toàn cho du khách tại các điểm du lịch; đơn giản hóa thủ tục, lệ phí cấp visa, mở rộng địa điểm xuất nhập cảnh của du khách quốc tế; sớm hoàn thiện quy chế thống nhất cho phép các phương tiện giao thông đường bộ của khách du lịch quốc tế vào Việt Nam… Hầu hết các ý kiến đều khẳng định ngành mình đã có kế hoạch cùng phối hợp với TCDL và các ngành liên quan triển khai và tìm biện pháp thực hiện tốt những nội dung của chương trình hành động quốc gia về du lịch và tổ chức thành công các sự kiện du lịch năm 2000.
Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cẩm đã kết luận phiên họp nhấn mạnh: 6 nội dung của CTHĐQG đều quan trọng và cần được triển khai thực hiện đồng thời. Nhưng trước mắt nên tập trung vào 2 vấn đề chính là tôn tạo, xây dựng cơ sở vật chất tại các biện pháp thực hiện kế hoạch năm 2000 kết hợp với các sự kiện, lễ hội nhằm thúc đẩy du lịch hoạt động sôi nổi hơn, tạo đà cho các năm sau. Phó Thủ tướng giao nhiệm vụ cho TCDL sớm tổ chức hội nghị lãnh đạo các tỉnh các ngành ngoài ban chỉ đạo nhằm làm rõ nhận thức về du lịch. Từ đó các địa phương, các ngành thấy rõ trách nhiệm và lợi ích của mình đối với hoạt động phát triển du lịch.
Tin, ảnh: Bùi Hỏa Tiễn
Khai mạc hội nghị lần thứ VII
Ban chấp hành trung ương đảng (Khóa VIII)
TTXVN – Sáng 9-8-1999, tại Hà Nội đã khai mạc Hội nghị toàn thể lần thứ VII Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII)
Các đồng chí Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng đã tham dự Hội nghị.
Hội nghị tập trung thảo luận và quyết định về các nội dung: Đối mới và kiện toàn một bước tổ chức bộ máy hệ thống chính trị: cải tiến một bước chính sách tiền lương, chính sách trợ cấp xã hội thuộc ngân sách Nhà nước và những công việc chuẩn bị cho Đại hội lần thứ IX của Đảng.
Trong phiên khai mạc, đồng chí Tổng bí thư Lê Khả Phiêu có bài nói quan trọng.
Tuần Du lịch- Tổng cục Du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Vĩnh biệt nhà thơ

Ai cũng biết ông là Trần Hữu Thung. Gọi được như vậy vì bài thơ Thăm lúa của ông đã đi vào mọi thế hệ học sinh từ cuối thời kháng chiến chống Pháp. Bài thơ đem lại vẻ vang cho ông và làm nên tên tuổi ông sau khi được Huy chương vàng tại đại hội Liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới tại Bucarét năm 1953.
Thành công vẻ vang của bài thơ Thăm lúa đã khắc họa tên tuổi ông vào với nền văn học kháng chiến. Cùng với một loạt tác phẩm thơ thời ấy như Nhớ của Hồng Nguyên, Đêm nay bác không ngủ của Minh Huệ, Đầu súng trăng treo của Chính Hữu, Viếng bạn của Hoàng Lộc, Chiều mưa đường số năm của Thâm Tâm… đã nâng tầm người lính Cụ Hồ cùng với người dân một lòng một dạ đoàn kết kháng chiến.
Sinh ngày 21 tháng 7 năm 1923 trong một gia đình nông dân ở làng Trung Phương xã Diễn Minh, huyện Diễn Châu, từ bé đã quen với công việc cày cấy ruộng đồng. Ông tham gia hoạt động cách mạng khá sớm.Ông tham gia hoạt động cách mạng khá sớm. Tháng 1 năm 1945 ông tham gia phong trào Việt minh ở địa phương và giành lại chính quyền cách mạng ở xã. Ông là Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính đầu tiên xã Hồng Lĩnh (tức xã Diễn Minh hiện nay) và làm phó Bí thư chi bộ. Tháng 5 năm 1948 ông được dự lớp học văn hóa kháng chiến tại Thanh Hóa. Kể từ đó nhà thơ bắt đầu chuyên sâu vào hoạt động công tác văn hóa văn nghệ. Năm 1957 tạm biệt quê hương khu IV, ông ra Hà Nội, làm cán bộ Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, Ủy viên Ban chấp hành Hội sinh viên học sinh Việt Nam, Ủy viên ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam và tham gia Ban biên tập Tuần báo Văn nghệ. Nhưng rồi cái chất quê kiểng khiến ông nhớ da diết vùng quê Xứ Nghệ. Cuộc sống thị thành không níu giữ được ông. Năm 1965, ông tình nguyện về quê hương tham gia xây dựng Hội văn nghệ địa phương, làm Phó Hội trưởng Hội văn nghệ Nghệ An, Chủ tịch Hội văn nghệ Nghệ Tỉnh. Năm 1987 ông về hưu tại xóm 7 xã Diễn Phúc, huyện Diễn Châu, Nghệ An, cạnh bệnh viện huyện, nơi vơ ông đang công tác.
Bà con Nghệ Tĩnh yêu mến nói Trần Hữu Thung là nhà thơ của họ. Suốt đời ông sống dân giã, bình dị, trung thực. Nhà thơ tạo cho mình cốt cách riêng, có dáng dấp của anh thợ cày, ông đồ nho xứ Nghệ, cậu ấm thành Vinh, nên thơ ông đi sâu vào trí nhớ của bà con Thanh – Nghệ – Tĩnh. Cùng với Thăm lúa, ông có những đóng góp đáng kể qua các tác phẩm: Anh vẫn hành quân, Vinh rực lửa, Đại ngàn, Ký ức đồng chiêm… Ngoài giải quốc tế ông còn được giải nhất về ca dao lớp văn hóa kháng chiến năm 1948, giải khuyến khích của Hội nhà văn Việt Nam cho tập Hai Tộ hò khoan, giải nhất thơ Nghệ An năm 1952, Giải nhất cuộc thi ký của Đài tiếng nói Việt Nam và báo Văn nghệ năm 1981.
Liên tục năm mươi năm cầm bút, hồi 18 giờ 20 ngày 31 tháng 7 năm 1999 nhà thơ Trần Hữu Thung đã trút hơi thở cuối cùng tại nhà riêng ở Diễn Châu.
Ông ra đi giữa mùa gieo trồng vụ mới. Tưởng như ông vừa vác cuốc ra đồng. Tưởng như quanh ông vẫn ngân nga một giọng ầu ơ bên lũy tre làng:
“Mặt trời vừa lên tỏ
Bông lúa chín thêm vàng
Sương treo đầu ngọn cỏ
Sương lại càng long lanh…”
Tô Đức Chiêu – Tuần Du lịch – 1999

Vận động nhưng phải kiên quyết đấu tranh

Trong sự nghiệp lãnh đạo đổi mới, xây dựng đất nước, Đảng ta đã đạt được nhiều thắng lợi to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu cơ bản, chúng ta còn bộc lộ một số yếu kém trong công tác xây dựng Đảng. Trong đó vấn đề rất đáng quan tâm là việc chống tham nhũng, quan liêu và thực hành tiết kiệm chưa đạt được kết quả mong muốn. Do đó chưa đáp ứng được nguyện vọng của đông đảo nhân dân. Một số Đảng viên suy thoái về đạo đức, lối sống, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Các thế lực thù địch trong và ngoài nước đã lợi dụng cơ hội đó để chống phá, thực hiện “diễn biến hòa bình” đối với Đảng ta. Vì vậy, bên cạnh việc vận động giáo dục, Đảng viên, Đảng ta cần phải tiến hành cuộc đấu tranh kiên quyết ngay trong nội bộ của mình mới tạo được sự chuyển biến cơ bản, sâu sắc.
Trước hết phải đề cao vai trò của quần chúng nhân dân trong cuộc chiến hết sức phức tạp này. Cội nguồn của nạn tham nhũng, thoái hóa đạo đức, lối sống chính là tệ đút lót, hối lộ, biếu xén….trở thành một thói hư, tật xấu. Chúng gặm nhấm dần phẩm chất của một bộ phận cán bộ Đảng viên. Tệ nạn này được xem là một loại giặc “nội xâm”. Thật nguy hiểm khi chúng lại lẩn quất trong vỏ bọc tinh vi, tráo trở. Nếu không biết dựa vào tai mắt của quần chúng nhân dân thì rất khó phát hiện để giáo dục, đấu tranh. Hơn nữa quần chúng nhân dân là lực lượng dễ bị lợi dụng và trực tiếp phải gánh chịu hậu quả bởi niềm tin và lòng trung thành. Do đó Đảng cần tập hợp quần chúng nhân dân đoàn kết, tham gia làm trong sạch đội ngũ chiến đấu của Đảng ở ngay từng chi bộ, Đảng bộ cơ sở…
Thực tế hiện nay, khi phát hiện ra những cán bộ, Đảng viên hư hỏng, thoái hóa biến chất, một số cơ sở, cấp Đảng bộ chưa có sự đấu tranh kiên quyết. Cũng có thể vì mục đích bảo vệ nội bộ mà những cán bộ, Đảng viên đó chỉ phải thay đổi vị trí công tác, mà không bị loại trừ hoàn toàn. Do đó ở cương vị công tác mới, họ lại tiếp tục sa đà vào những thói hư tật xấu càng trở nên nguy hiểm, ngày càng gây mất lòng tin trong nhân dân.
Đành rằng sự “cắt bỏ” nào cũng lại nỗi đau, nhưng như thế không có nghĩa chúng ta cứ để những ung nhọt hủy hoại dần một cơ thể sống đang cường tráng, rắn rỏi. Những kẻ nịnh bợ, tạo vây cánh, cơ hội gây mất đoàn kết, chạy theo lối sống thực dụng…Đảng cần kiên quyết “cắt bỏ” bằng cách loại trừ ra khỏi đội ngũ Đảng, bộ máy Nhà nước. Đó cũng là quy luật tuy ngặt nghèo nhưng tất yếu trong xây dựng Đảng. Có như vậy chúng ta mới củng cố và bảo vệ sự trong sạch, vững mạnh cũng như uy tín của Đảng.
Hoàng Hương – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Điểm du lịch trên cao ở Thành phố Hồ Chí Minh

Ở vào thời điểm hiện tại, tòa nhà Trung tâm Thương mại Sài Gòn có độ cao nhất Thành phố Hồ Chí Minh. Toà nhà có 33 tầng, nằm ở số 37 đường Tôn Đức Thắng, quận 1. Ở đây, ngoài chức năng cho thuê văn phòng hiện đã có nhiều doanh nghiệp trong nước, quốc tế đóng trụ sở giao dịch thương mại… toà cao ốc này còn là điểm du lịch kỳ thú đối với du khách trong nước và quốc tế đến Thành phố Hồ Chí Minh. Hàng ngày từ 10 giờ sáng tới 11 giờ đêm, từ tầng G, chỉ sau chưa đầy 3 phút bằng thang máy, du khách đã đặt chân lên tầng 32, 33 (hoàn toàn miễn phí). Một khoảng khắc choáng ngợp lập tức cuốn hút du khách bởi toàn cảnh thành phố hiện ra rực rỡ. Dạo một vòng xung quanh tầng lầu, du khách được chiêm ngưỡng cảnh đẹp thành phố ở cả bốn bề. Hướng đông nam là khu trung tâm quận 1 sầm uất với những toà nhà cao tầng hiện đại, vươn sát tới bờ sông Sài Gòn uốn lượn. Hướng đông bắc, bên kia bờ sông là cả một màu xanh mượt mà lựa như lá phổi lớn của thành phố… Nhìn từ trên cao, chuyện nhâm nhi với ly cà phê hoặc các loại đồ ăn uống khác. Tuy nhiên xin nhắc một điều, mọi thứ ở đây không có giá dưới 2,3 đô la. Hàng ngày từ 2h30 chiều, nhà hàng phục vụ theo phương thức trọn gói, 4,5 đô là với người lớn, 3 đô la với trẻ em. Bằng số tiền đó, du khách sẽ được thưởng thức các loại bánh ngọt, đồ uống theo nhu cầu. Với nhiều người dân lao động có thu nhập thấp thì chi phí cho cuộc thưởng ngoạn này tuy rằng cao, nhưng cũng không phải là khó để có được một lần thưởng thức. Xin mách nhỏ: nếu không có tiền bạn vẫn có thể lên và làm một vòng quanh nhà hàng rồi xuống mà không ai bị trách cứ.
Thành phố Hồ Chí Minh: bắt đầu chương trình đón 150.000 khách quốc tế bằng đường tàu biển
Sáng 7-9-1999, con tàu lớn nhất và hiện đại nhất của Hãng Du lịch tàu biển Star Cruises (Malaysia) mang tên Super Star Leo đã đưa 2.000 khách du lịch quốc tế cập cảng Thành phố Hồ Chí Minh, mở màn cho một chương trình du lịch kéo dài từ tháng 9/1999 – 10/2000 do Saigon Tourist phối hợp với Star Cruises tổ chức. Theo chương trình này, hàng tuần 3 chiếc tàu biển của Star Cruises sẽ thay nhau đưa khách du lịch quốc tế tới thăm các điểm du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Nha Trang, Côn Đảo, Phú Quốc, Hạ Long. Thông qua chương trình này, Saigon Tourist dự kiến đón khoảng 150.000 lượt khách (so với năm 1999 là 8.690 lượt và năm 1997 là 3.440 lượt).
A.K – Tuần du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999