Cưỡi tàu hỏa xem vành đai Hà Nội – Phần 1

Chiếc đầu máy hơi nước đen sì hú lên hồi cồi lanh lảnh, phả ra từng làng khói trắng, rồi cựa mình, chầm chậm rồi kéo cả đoàn tàu rời khỏi sân ga…Ngay khoảnh khắc đầu tiên này, tôi bỗng nao nao nhớ một chút về quá khứ. Đó là thời cuộc sống của người Hà Nội dường như không thể thiếu những hình ảnh và âm thanh tương tự, mỗi khi có đoàn tàu hối hả vào ra thành phố. Tội nhận ra rằng mình đã gặp may, khi trở thành trong số gần 400 du khách đầu tiên của tuyến du lịch vòng quanh thế vành đai Hà Nội, trên chuyến tàu khai thông toàn tuyến. Chẳng cứ gì những du khách trên tàu, nhiều người Hà Nội hình như cảm thấy ngỡ ngàng khi nhận ra con tàu vừa lạ, vừa quen.
Tàu du lịch Thăng Long được hình thành theo ý tưởng của ngành Đường sắt, nhằm tăng cường những đoàn tàu chuyên phục vụ khách du lịch trên các tuyến tham quan ngắn. Tàu gồm nhiều toa sang trọng, do chính người Việt thiết kế, chế tạo. trong đó có toa xe 2 tầng đầu tiên được đưa vào chạy thử. Theo dự tính tàu sẽ phục vụ du khách mỗi tuần một chuyến vào 8 giờ sáng chủ nhật, tiến tới tăng thêm một chuyến vào sáng thứ bảy. Ngoài ra, sẽ có những chuyến phục vụ theo hợp đồng thuê bao và bất cứ thời gian nào trong tuần. tàu chạy theo hành trình: Ga Hà Nội, qua các ga Gia Lâm, Yên Viên, Cổ Loa, Đông Anh, Bắc Hồng, Kim Lỗ, Phú Diễn, Hà Đông, Văn Điện, Giáp Bát rồi trở về ga Hà Nội.
“Cầu Long Biên đây rồi”, tiếng reo khe khẽ bật ra từ nhóm du khách trẻ, khiến cô gái hướng dẫn viên cho du khách Nhật Bản như được dịp thể hiện. tôi không hiểu cô nói gì với du khách, chỉ thấy chiếc máy ảnh trong tay họ nháy lên liên hồi. Sông Hồng hôm nay đẹp lắm. Những con thuyền nhỏ xinh xắn trôi đi dưới làn mưa bụi, tựa như sương giăng mờ ảo. Kể từ ngày được “nghỉ hưu”, cây cầu già trên trăm tuổi như càng đưối sức hơn. Người ta mãi bàn, mãi tính về số phận của nó mà dường như quên mất sự xói mòn của thiên nhiên khắc nghiệt. Trong khi đó, nó vẫn cõng hàng chục chuyến tàu hỏa mỗi ngày… Đã có lúc những người làm du lịch muốn đưa cây cầu Long Biên lịch sử trở thành điểm du lịch quan trọng, thế nhưng chưa biết xoay sở ra sao. Nghe nói vừa rồi, một nhóm các nhà tư vấn của Pháp đã sang bàn bạc và hứa giúp chúng ta kiên cố hóa cây cầu này theo đúng hình dáng cũ. Quả là một tin vui, nhưng tính sơ bộ cũng hết khoảng 100 triệu đô la (gấp hơn hai lần so với xây dựng mới bằng bê tông) xem ra chưa ai ms hứa hẹn ngày “cụ” cầu Long Biên được: “Cải lão hoàn đồng”.
Chẳng mấy chốc, bên ngoài con tàu, cái không khí náo nhiệt của đô thị được thay bằng cảnh thanh bình của làng mạc ngoại thành. Những cánh đồng lúa xanh mướt, đương “thì con gái” nhìn thật sướng mắt… Nếu không có một thời ấu thơ tại vùng này, chắc chắn tôi không thể khẳng định với người bạn đồng hàng rằng, cái “con đê” đứt quãng kia lại chính là một đoạn còn lại của thành Cổ Loa nmổi tiếng. Sau một thoáng ngỡ ngàng, những người khách du lịch quốc tế cũng kịp nhận ra những gì người hướng dẫn viên đang nói.
Bùi Hỏa Tiễn – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 11 (176) – 2001

Bóng núi và núi – Phần 3

– Thế đấy. Tôi thủ thỉ với đường đèo. Thôi cho ta tránh mọi hiểm họa, tai ương. Đừng biến đường đèo thành cái tha ma dọc. Đừng chi chit nữa những bát hương gọi hồn ai xấu số.
– Ừ Gió Hải Vân thổi ngoặt lại như bẻ gẫy. Con đường “ừ” mà như nấc lên. Thôi nếu cuộc ly biệt vì hạnh phúc của con người. Ta bình tâm chịu vậy. Đỉnh đèo vẫn vụ sắp đủ một cơn mưa. Tôi đứng dậy. Bóng núi nhòa mờ đã lâu mà tôi không biết.
Hải Vân chợt mưa rồi chợt nắng Vừa mới nắng nhòa hơi nước đã qua quẻ nắng tươi. Nắng chia từng vạt nhỏ vì tan mưa chứ không tan mây. Mây in bóng mình lên lưng núi. Núi nghiêng vai in bóng xuống con đường. Cảnh quan này tồn tại trước ý tưởng một đường hầm xuyên núi đến triệu triệu năm. Con người làm sao tạo được. Đó là cuộc gặp gỡ của các tác giả Mặt trời, Đại dương và Đât núi. Tôi đã một đời mê đắm những gập ghềnh, khúc khuỷa. Tôi đã dẫn vào thơ tôi: “Suốt miền Trung sông suối dày tơ nhện – Suốt miền núi Trung núi choài ra biển – Nên gập ghềnh câu lý ngựa ô qua.”**
Cây lý ấy cũng còn phải bước gập ghềnh nhưng một thế kỷ tương lai của công cuộc chấn hưng đất nước mà gập ghềnh sao được.
Xe của du lịch Đà Nẵng đã đúng hẹn lên đèo đón tôi.
– Còn việc chi nữa không bác?
– Xong. Xong rồi . Hình như tôi vô ý. Miệng nói xong mà mắt chẳng chịu rời bóng núi. Như bóng núi đang nhoài về phía tôi.
– Bây giờ, giám đốc của chúng con mời bác ra Huế chơi. Rồi bác sẽ quay vô Đà Nẵng để đáp tàu về Hà Nội.
– Ừ, cảm ơn giám đốc của các bạn. Tôi muốn vậy nhưng chỉ em phiền.
– Có chi mô bác.
Xe đỗ dần xuống triền núi Bắc. Trong bối cảnh của cuộc chia tay sắp diễn ra ở mấy năm đầu thập kỷ thứ nhất của thế kỷ 21, tôi nhìn từng nhan sắc núi mà thương. Rồi địa chỉ đèo sẽ được thay thế là địa chỉ hầm. Rủ nhau lên đèo. Cum từ ấy nhiều thi cảm. Chắc tất cả các thành viên của ngành giao thông có cùng tôi ý nghĩ lãng mạn này. Nhưng tất cả, kể cả các thi sĩ đều phải tiến sâu vào ruột núi mà nghe giai điệu khoét hầm cam go và hùng tráng.
Tôi bồi hồi nhớ đến Trịnh Tố Tâm khi đổ dốc Lăng Cô để tiến dần ra đèo Phước Tượng. Tôi muốn dừng xe một lát ở quãng có cái bóng núi che choán mát rượi cả lòng đường.
– Có bạn bạn nào biết quả looang boong không?
– Dạ , quả chi nghe lạ rứa bác? Tôi kể chuyện 51 lần mai phục gài mìn, chập kíp của Trịnh Tố Tâm đánh tàu hỏa Mỹ, xe quân sự Mỹ xuống đèo ra Huế.
Những cơn đói cơn khát của Tâm được làm dịu bớt nhờ quả núi trên đèo. Tôi chỉ nhớ được tên gọi một thứ quả long boong. Nhân viên du lịch, lái xe du lịch Đà Nẵng nghe kể chuyện và ăn nếm chùm quả long boong vui vẻ lắm. Tôi cũng vui lây.
Tôi sẽ giữ lời hứa. Năm nào đã thông hầm Hải Vân cho xe qua, tôi sẽ khấn mời Trịnh Tố Tâm về. Ngồi trên xe vút qua chắc tôi và hương hồn Trịnh Tố Tâm sẽ dìm cơn khát bằng nước khoáng Vital chứ không phải quả long boong này.
* Các vị vua chúa, chí sĩ danh tài đã có chữ đề, thơ phú về Hải Vân quan.
** Lý ngựa ô ở hai vùng đất – Thơ PNC (chú thích của biên tập).
Phạm Ngọc Cảnh – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Bóng núi và núi – Phần 2

Ở dưới chân đèo, tôi háo hức. Leo lên đỉnh, tôi dặn mình hết sức bình tâm. Tôi đang gắng miêu tả cái nghĩ của con người. Không hồ đồ được. Tôi tìm bóng núi. Trời đang xế nắng sang chiều. Bóng núi nghiêng xuống mặt đường như mái nhà che tôi. Tôi nhìn xuống mặt đường quốc lộ hồi lâu rồi bắt chuyện.
– Người định bỏ ta sao? Con đường lên tiếng.
– Đành phải thế. Tôi lặng người đi. Cuộc tình người lữ khách và con đường mấy trăm năm. Ít gì đâu. Tôi nhìn sang mấy cái bát hương sát mép núi, sát rệ đường như di chúc buồn của những người xấu số.
– Rồi người chui vào ruột núi. Vèo nhanh như chớp mắt. Liệu còn ngoái lại nhìn ta.
Bóng núi dồn câu than trách ấy. Tôi không là ông Nguyễn Xuân Đào. Ông là Viện trưởng của một viện quan trọng của Bộ Giao thông. Ông trả lời là đủ sức thuyết phục. Vậy mà tôi còn được đọc những giai điệu trầm bổng của ông. Ông phải cầu viện âm nhạc giảng giải giúp những gì khoa học kiệm lời. Ông Đào còn vậy nữa là tôi. Tôi nghiêng về lớp người ưa tỉ mẩn đếm, nhâm nhi nhìn. Nhìn con sông Đà thì không nhìn kỹ lắm chỗ nước xoáy nghiền ra điện sáng mà ưa liên tưởng sóng sông Đà vồ vập vào gấu váy Quỳnh Nhai. Nhìn cây cầu trên sông Bến Hải lại ưa đếm tổng số ván lát cầu là số lẻ. Biết vậy để thôi thúc cái số chẵn hàn gắn nhanh vết chém. Chia cắt ở Hiền Lương. Tôi không là ông Nguyễn Ngọc Trân. Ông Trân dẫn dắt các vụ án PM U85 ra hiện thực cầu đường ở Miền Trung. Bến thủy rồi Hiền Lương, Quán Hàu. Ông cũng là nhà lãng mạn. Những khúc chiết chặt chẽ. Tôi lại là tôi, tôi và những sợi mây, sợi khói đang tích dần làm mưa kia cứ muốn tìm cơ hội để nghe nhau.
Tôi đang ngồi trên đỉnh núi. Bốn năm nữa, còn mấy ai đến ngồi. Ngày ấy tất cả đều đi lối khác. Bỏ lối qua đèo để hun hút qua hầm.
– Tôi vẫn thủy chung với người đấy thôi. Tôi ngắt một ngọn cỏ may. Chơi trò làm cái ằng – ten âm dương để nói với con đường.
Mới năm ngoái, giá còn đường nhớ lịa cảnh ông Thứ trưởng Bộ giao thông Phạm Quang Tuyến đứng giữa đường đèo mà chỉ huy cuộc vá víu cấp tốc cho x echo người thông qua. Ông Tuyến, các kỹ sư giao thông , thợ cầu, thợ đường, cảnh sát không ai dám khóc. Chỉ trời khóc đầm dề. Khóc thành bão, going, tai họa. Mà xứ sở quê ta, nhất là dọc tuyến miền Trung trời và đất vốn là người đẹp, dễ mủi lòng, mau nước mắt. Lại nữa, xa trước là cảnh êm hòa. Có mưa có bão cũng rơi vào đúng kỳ, đúng tiết . Mưa thì đã phân ra 7 tiết mưa phùn, mưa rào, mưa ngâu, rươi… Chúng ta ước đoán gần sát để dè chừng. Giờ chưa qua vũ thủy đã gió mưa tối trời, thối đất. Giờ đã vượt qua đông chí vẫn nơm nớp nhìn trời mà lo. Lũ quét rồi lũ dầm. Lũ dâng rồi lũ ứ.
Phạm Ngọc Cảnh – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Bóng núi và núi – Phần 1

Bốn năm nữa, chắc tôi còn được thắp hương khấn gọi Trịnh Tố Tâm về. Cứ cho là đến ngày đó Tâm vẫn chỉ là Thứ trưởng Bộ Thương binh Xã hội, Tâm sẽ mời tôi cùng vào dự lễ mở đường hầm Hải Vân. Ba mươi năm trước, trên Trường Sơn ở đỉnh cao một nghìn bốn trăm bảy mươi hai mét, tôi được Quân khu phân công viết sách bản thành tích đánh tàu, đánh xe của Trịnh Tố Tâm ở quãng đèo Hải Vân mái bắc. và dồn góp từng trận, từng chiến công thành tượng đài để Trịnh Tố Tâm ở quãng đèo Hải Vân mái bắc. Và dồn góp từng trận, từng chiến công thành tượng đài để Trịnh Tố Tâm bước lên với tư thế dũng sĩ rồi anh hùng quân đội.
Tôi còn nhớ một đoạn do mình viết giúp Tâm… “Tàu hỏa của Mỹ ngụy từ Đà Nẵng sắp ra. Mắt tôi (Trịnh Tố Tâm) chú vào cái lỗ đường hầm đen xì. Bỗng chiếc HU1A rà thấp một vòng đứng khựng trước mặt. Phải đuổi bọn này đi kẻo tàu ra, đánh sao kịp. Máy thằng Mỹ cứ nhởn nhơ, trâng tráo trên đoạn dây nối ra quả quả mìn đã gài. Phải liều chạy ra thôi. Tôi nghĩ nhanh. Tôi đái nhanh ra đám tro cây lá đốt trụi. Xoa nhanh thứ bột tro ấy lên mặt, lên ngực. Tôi chạy xuống đồi…
– Ê! Vi xi – làm gì ở đây?
– Oe, oe, oe… Tôi hoa múa chân tay.”
Tâm đóng vai câm. Nhớ là trước khi đi bộ đánh Mỹ, tâm đã trúng tuyển vào đoàn kịch Tổng cục chính trịn. Nếu ông thân sinh ngày ấy không thành kiến, không coi nghề ca hát, kịch tuồng là xướng ca vô loại thì Trịnh Tố Tâm đã là diễn viên, là nghệ sĩ.
Những tên lính Mỹ ngày ấy cũng lố ngố ham chơi. Chúng bắt tâm lùa hết đàn bò lại để chụp ảnh một Vi xi câm rồi lên máy bay cút thẳng. Tâm nối vội dây mìn. Và …
Tôi cầm lá thư của ông Vũ Phạm Chánh gửi ông Nguyễn Ngọc Trân. Hai ông ở hai ngành của giao thông Việt Nam ráp mối thông tin để tôi có chuyến vào Hải Vân. Trước hay sau lễ khởi công 20 tháng 8 năm 2000 là tùy tôi thu xếp.
Tôi ghé vào cơ quan của ông Trần. Cơ quan quản lý dự án PM 485 này luôn bận rộn. và Giám đốc Nguyễn Ngọc Trân là sự bận rộn của tất cả các đầu mối có liên quan. Ông Trân ra Hà Nội. Cơ quan của ông mời tôi nán lại Vinh mấy bữa để chờ ông về. Tôi ôn lại những gì đã được nghe ở đây về dự án đường hầm qua Hải Vân. Tôi còn nhớ được cả mái tóc bạc sớm của Nguyễn Ngọc Trân xoa lên những bản vẻ như mây trên đèo. Điều nhớ được và liên tưởng lãng mạn như thế là đủ. Còn thừa chút đỉnh là khác . Nguyễn Ngọc Trân vốn là con đẻ của đất Hà Tĩnh. Ông mơ ước sau Hải Vân sẽ khoét luôn hầm qua Đèo Ngang.
Tôi mở tiếp cuộc độc hành từ ga Vinh. Ngoài cửa sổ toa tàu, thấy trên đường quốc lộ , các loại máy xúc máy chuyên dụng làm đường nối đuôi nhau đi về hướng Nam. Qua ga Đồng Hới tôi mới rõ Máy móc ấy, các đạo quân giao thông ấy rẽ lên Trường Sơn – Lễ khởi công Đường Hỗ Chí Minh đã diễn ra ở bến Xuân Sơn rồi. Tôi đi tiếp. Muốn dừng lại ở Huế rồi từ đó mượn đường quốc lộ mà tiến vào chân núi ở Lăng Cô. Lại muốn từ Đà Nẵng ra Liên Chiểu rồi leo tiếp lên đỉnh đèo. Tôi tham lam trong việc chọn đường. Bởi chọn hướng nào lên cũng đẹp “Thôi mỗi người chỉ được hưởng một phần lộc trời, lộc đất ban cho Cái Duyên vào trang viết còn ở mình. Cứ dần dà rồi gặp hết. Miễn đừng nhãng nhạt. Đừng lạnh tắt sức đam mê.
Tôi nhớ người của ngành Du lịch Đà Nẵng dẫn ra chân đèo. Thời kinh tế năng động, ngành nào cũng muốn tiếp thị, quảng cáo vào tôi. Du lịch Đà Nẵng “khoe” công trình khai phá mới ở Bà Nà – Núi Chúa. Làm sống lại khu nghỉ mát của Tây có từ đầu thế kỷ 20. Thú vị nhất là tôi được mời lên chop nhọn của núi chúa bằng cáp treo. Vậy là trong khi tôi đang tưởng tượng ra đường hầm xuyên núi rộng 12m, cao 7m50 như đường xuyên địa phủ lại được bồng bềnh thăng thiên ằng cáp treo lên Núi Chúa – Bà Nà.
Tôi tìm được một chỗ trọ trên đỉnh đèo. “Các nhà khảo sát còn ở được cả tuần. Mình ở vài đêm. Có sao! Họ khúc xa địa chấn. Mình thăm dò tâm thức con người. Phía nào chẳng công phu”. Tôi hẹn với Du lịch Đà Nẵng sau hai ngày hai lên đón. Họ gửi lại nhà trọ cho tôi một thùng lương thực đủ sống ba ngày. Tôi cứ nghĩ là mình được bằng ấy là tuyệt đối rồi. Lại nghĩ khi vua lê Thánh Tông, Chúa Nguyễn Hoàng, nhà chí sĩ Nguyễn Xuân Ôn qua đèo , dừng lại trước Hải vân quan có rềnh rang, nhiều khê như thời nay không? Tôi liếc qua thùng lương thực nuôi tôi trên đèo. Có đủ từ cái tăm tre đến hộp thuốc xịt muỗi.
Phạm Ngọc Cảnh – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Giới thiệu đặc sản

Chim mía Xuân Phổ
Cá bống sông Trà
Kẹo gương Thu Xà
Mạch nha Mộ Đức
Chỉ 4 câu vẻn vẹn 16 chữ người bình dân đã giới thiệu cả 4 đặc sản nổi tiếng của Quãng Ngãi, gắn bó với những địa danh tiêu biểu nhất. Về đặc sản cá bống sông Trà, có thể kể đến những câu ca dao rất hay khác, như:
Phải đâu chẳng nói mà xiêu
Tại con cá bống tại niêu nước chè
Nước chè lá Minh Long sắc đặc phải nói là rất ngon sau mỗi bữa cơm có món cá bóng sông Trà kho tiêu. Người bình dân đã chọn chuyện tình duyên đôi lứa để làm đòn bẫy bật lên sức hấp dẫn của đặc sản. Cũng với kiểu như vậy, với don, một đặc sản bình dân lại có câu:
Con gái còn son
Không bằng tô don Vạn Tượng
Có người nói rằng so sánh như vậy là quá đáng. Sao có thể con gái còn son không bằng tô don vạn tượng? Sao lại so sánh người với một thứ thức ăn, dù là thức ă đặc sản? Ngẫm lại thì đây không phải là sự so sánh. Nó là lối nói nhấn (thậm xưng) rất thường thấy ở ca dao xưa. Cũng như câu phải đâu chàng nói mà xiêu … chỉ cốt để tạo ra cho lời nói có ấn tượng mạnh, có màu sắc không ai suy diễn ra rằng cô con gái xem chuyện tính duyên của mình không bằng một món ăn. Với lối nói thậm xưng người bình dân giới thiệu đặc sản của mình với một niềm tự hào không cần giấu diếm song vẫn giữ được sự tế nhị gấp nhiều lần kiểu quảng cáo “húc, húc, đầy sức mạnh!’ Bởi ca dao giới thiệu đặc sản với một tấm lòng trong sáng còn dạng tiếp thị thế kia thì lại chưa thấy dấu ấn văn hóa, dù nó ra đời trong một thời hiện đại văn minh.
Một chút trào lộng nhưng vẫn luôn trong sáng người bình dân còn có câu khá vui:
Nghèo thì nghèo, nợ thì nợ
Cũng kiếm cho được con vợ bán don
Một chút chua chát, người dân kể chuyện tình lặt lẹo trắc trở do không môn đăng hộ đối mà vô hình chung lại giới thiệu được cái giá trị của đặc sản mắm nhum:
Sớm mai anh ngủ dậy
Anh súc miệng
Anh rửa mặt
Anh xách cái rựa quéo
Anh lên hòn núi Quẹo
Anh đốn cây củi công queo
Anh than với em cha mẹ anh nghèo
Đôi đũa tre yếu ớt không dám quèo con mắm nhum
Quãng Ngãi là xứ mía đường, nên dễ hiểu là ca dao cũng đề cập nhiều đến đường, mía đặc sản:
– Ở đây mía ngọt đường nhiều
Tìm trai xứ Quảng mà yêu cho rồi
– Nước mía ngọt cũng thắng thành đường
Anh thương em thì anh biết chớ thói thường ai hay
Cũng cần biết xưa kia có nơi đặt ra lệ phạt người bẻ trộm mía để ăn, nên mới có cái hoạt cảnh khôi hài này:
Mía ngọt tận đọt
Heo béo tận lông
Cổ thời mang gong
Tay cầm lóng mía
Vừa đi vừa hít
Cái đít sưng vù
Chuyện mía lan sang chuyện đường với nhiều loại đường đặc sản như đường cát: “Thiếp gửi cho chàng, một cục đường rim , một tìm đường cát”, đường phổi: “Bậu về nhớ ghé Ba La, mua cân đường phổi cho ta với mình”, đường phèn: “Thơm ngon như món mạch nha, ngọt qua đường phổi thơm qua đường phèn…”. Cũng có thể kể, ngoài hải đảo Lý Sơn còn có bánh ít lá gai nổi tiếng (dù chưa phải là một đặc sản nổi bật ở đây) với câu ca dao có mô – tuýt quen thuộc” “Muốn ăn bánh ít lá gai lấy chồng hải đảo sợ dài đường ghe”. Trên nguồn thì có đặc sản quế Quãng nổi tiếng ở Trà Bồng, song lại gắn với ý niệm xa xôi, cách trở: Lựu tìm đào, đào chẳng tìm lê, lên non tìm quế, quế về rừng xanh”. Quế Trà Bông cũng vang danh không kém chị mía đường:
Ai về Quãng Ngãi
Cho tui gửi ít tiền
Mua dùm miếng quế lâu niên
Đem về trị bệnh khỏi phiền bà con
Giới thiệu đặc sản, ca dao luôn quyện với tình người, quyện với những sinh hoạt rất đời thường, rất tự nhiên, thuần phác, dân dã, cho nên có thể ca dao về đặc sản cũng là một… đặc sản có khí vị riêng. Trong thử thách khắc nghiệt của kinh tế thị trường, có lẽ niềm hy vọng chung của mọi người là được thưởng thức cả ca dao lẫn những đặc sản, những khí vị rất riêng của từng vùng đất. Vâng sẽ rất chán nếu đi đến vùng đất nào cũng chỉ thấy những sản phẩm toàn cầu như Pepsi Cola, Coca Cola…
Lò đào tạo diễn viên bốn chân
Đó là nơi không xa Paris, do nhà huấn luyện thú Đieuone làm chủ. Hơn ba năm nay cơ sở đào tạo chó và mèo cho các phim trường trong và ngoài nước hơn 100 “diễn viên bốn chân” theo yêu cầu của nhiều bộ phim.
Điêuone cho biết: Tìm giống chó hoặc mèo để huấn luyện thành diễn viên là vấn đề khó, nhưng khi nó đã thành tài thì người huấn luyện cảm thấy thật hạnh phúc vì nó cũng có những tính cách giống như người làm đôi khi ta phải giật mình suy nghĩ.
Cao Chư – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Đặc điểm tâm lý khách du lịch một số nước

Khách du lịch Mỹ: Khách du lịch Mỹ mang tính thực dụng cao, họ thích ăn to nói lớn ở chỗ công chúng. Họ đòi hỏi hướng dẫn viên của đoàn nói với họ cũng bằng giọng họ nói to, rõ như họ. Khách du lịch Mỹ không thích những người phục vụ bàn họ nói nhỏ, thì thầm với người bên cạnh. Nếu hướng dẫn viên nói nhỏ kiểu đó họ cho là có thể nói xấu họ. Đối với khách Mỹ, để diễn đạt ý kiến gì, hướng dẫn viên cần phải nói thẳng lập trường của mình, không quanh co, bóng gió, chơi chữ. Khách du lịch Mỹ thể hiện sự phản đối hay đồng tình công khai nhất những thông tin mà hướng dẫn viên du lịch nêu ra. Khách du lịch Mỹ sống cởi mở, đôi khi gây ồn ào trong khách sạn hoặc nơi công cộng. Khách du lịch Mỹ thường giàu có họ thích ở khách sạn loại sang và tiêu pha rất phóng túng.
Khách du lịch Nga: Đây là những khách du lịch dễ tính tính tình đôn hậu, trung thực, tình cảm dễ bộc lộ. Khách du lịch Nga ít đòi hỏi, họ thường ở những khách sạn loại thường. Tính tình người Nga rất cởi mở, dễ gần, cho nên ngay từ buổi đầu gặp gỡ, sau khi bố trí cho các đoàn ăn nghỉ, hướng dẫn viên thường dduojc trưởng đoàn mời đến phòng riêng, trước hết bằng ly rượu mạnh “Votca” sau đó mới thảo luận về chương trình đôi bên.
Tính tập thể của khách du lịch Nga khá cao. Trước bữa ăn hay trước cuộc tham quan, họ tập trung tương đối đúng giờ. Người Nga không tiêu pha nhiều, quan tâm nhiều đến đồ trang sức. Họ thích hàng hóa đặc trưng của nước họ đến du lịch.
Khách du lịch Trung Quốc: Người Trung Quốc, Đài Loan vào Việt Nam du lịch hiện nay với mục đích chính là nghiên cứu khảo sát thị trường, tìm cho bạn hàng buôn bán với đối tác đầu tư. Tham quan phong cảnh, di tích văn hoá, lịch sử là mục đích thứ yếu. họ thường lựa chọn chương trình Businees tour khoảng từ 7 đến 15 ngày đi cả ba miền Bắc – Trung – Nam thông qua các cuộc tiếp xúc với các cơ quan quản lý chức năng như: Uỷ ban Nhà nước về Hợp tác đầu tư, Bộ thương mại, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các thương nhân, các công ty, xí nghiệp để tìm hiểu chính sách xuất nhập khẩu và Luật đầu tư của Việt Nam.
Họ thường không cần ở các khách sạn cao cấp, ăn uống cầu kỳ ăn khoẻ và hay trò chuyện trong bữa ăn. Ngoài ra, khách du lịch Trung Quốc còn hay thay đổi một số chi tiết trong chương trình đã lập ra.
Khách du lịch Nhật Bản: Hiện nay, hàng năm, người Nhật Bản du lịch ra nuớc ngoài tới hơn 10 triệu người, nhưng vào Việt Nam chưa nhiều lắm. Khách du lịch Nhật rất coi trọng giờ giấc, quí từng phút, vì hàng năm chỉ được nghỉ một số ngày nhất định còn thời gian khác họ phải lao động thực sự. Khách du lịch Nhật thường là các khách du lịch giàu có, ở khách sạn loại sang và đầy đủ tiện nghi. Họ không thích ở tầng thấp trong khách sạn mà họ ở tầng cao vì cho rằng ở tầng thấp dễ bị tống tiền.
Để đề phòng việc này, khi ra nước ngaòi du lịch đôi khi người Nhật ghi tên và quốc tích nước khác trên vali để đánh lạc hướng kẻ xấu. Tới nước nào đó, họ tránh đi chơi khuya và đi vào những ngõ hẻm của thành phố. Phụ nữ Nhật thường rất cẩn thận khi mua bán hàng hoá và biết mặc cả.
Khách du lịch Nhật thường thích những chương trình câu cá, săn bắn hay đi tàu hoả ngắm cảnh. Ngoài ra, họ cũng rất hứng thú với những chương trình du lịch bằng đường biển. Khách du lịch Nhật là những người rất kín đáo, tế nhị, thích cử chỉ nhẹ nhàng, không ầm ĩ. Họ cũng ít khi kể chuyện hài hước, tiếu lâm về đề tài gia đình. Lễ giáo gia đình, tính cách dân tộc của khách Nhật Bản rất nghiêm túc.
Khách du lịch Pháp: Người Pháp vốn có sở thích đi du lịch nước ngoài và có ngành công nghiệp du lịch rất phát triển. Những năm gần đây, người Pháp đi du lịch vào Việt Nam ngày càng đông. Họ đi thành từng đoàn, có khi đến 300 – 400 người, bằng đủ loại phương tiện, như: máy bay, chuyên cơ, tàu thủy, ô tô. Trong quá trình tham quan du lịch họ muốn gần gũi, tiếp xúc với người Việt Nam, tham quan các cơ sở sản xuất thủ công, mỹ nghệ, trường học và các cơ sở y tế. Họ thích quay phim, chụp ảnh các cảnh sinh hoạt hàng ngày ở nông thôn. Du khách Pháp ưa chuộng các loại hình nghệ thuật truyền thống của Việt Nam như: chèo , tuồng, múa rối nước, nhạc dân tộc, Người Pháp thích trao đổi quan điểm hay bình luận về mọi phương diện của cuộc sống, coi trong tình bạn, cuộc sống gia đình. Ở nơi công cộng họ thường kín đáo. Những người lớn tuổi luôn hào hoa phong nhã, thể hiện qua cử chỉ, lời nói, trang phục. Trong các khách sạn, buồng ngủ họ đòi hỏi rất nghiêm ngặt về vệ sinh ga gối và buồng vệ sinh cũng như tất cả trang thiết bị trong phòng. Về ăn uống, họ thích thưởng thức các món dân tộc nơi họ đến tham quan, du lịch.
Phan Thị Kim Thoa – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 8(173)2001

Du lịch Lâm Đồng tăng tốc? – Phần 2

Một vài năm trở lại đây, đặc biệt khi Đà Lạt được công nhận đô thị loại II, cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông không ngừng nâng cấp, mở rộng, đã tác động tích cực cho Du lịch mở hướng đi lên. Mặt khác, qua những hình thức ngày hội văn hóa các dân tộc Tây Nguyên, các hội nghị – hội thảo, nghiên cứu khoa học tổ chức, đăng cai tại Lâm Đồng – Đà Lạt, không riêng tạo ra doanh thu mà đã kích thích mạnh mẽ kinh tế Du lịch nâng bước đi lên… Thế nhưng có còn hay không tình trạng “chặt chém” giá cả du khách ở những mùa du lịch cao điểm? Trách nhiệm này, ngành Thuế, Quản lý thị trường đã vào cuộc hay chưa? Tình trạng chèo kéo, giành giật khách ở khu vực kinh tế du lịch tư nhân, ngành Công an bao giờ mới giải tỏa dứt điểm? Hoặc việc cấp phép kinh doanh khách trọ, ngành Thương mại Kế hoạch – Đầu tư có cân nhắc trước với cơ quan quản lý Du lịch Nhà nước về con người và tài sản đưa vào làm kinh doanh liệu có đủ tiêu chuẩn du lịch? Đó là chưa kể đến những hoạt động mang bản sắc văn hóa Tây Nguyên chưa được đầu tư khơi dậy đúng mức, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu ngày càng phong phú, đi vào chiều sâu của khách…
Riêng ngành Du lịch Lâm Đồng – Đà Lạt, hơn lúc nào hết phải tăng tốc độ đầu tư và mở rộng sản phẩm du lịch phong phú, hấp dẫn hơn, theo hướng du lịch sinh thái. Nhưng nếu chỉ đòi hỏi như thế cũng mới chỉ là một vế của vấn đề. Bài học tiếp tục thua lỗ ở liên doanh RDI nhiều năm qua là một minh chứng điển hình nhất. Ở đây việc chơi golf đối với khách nội địa thường hy hữu, bởi giới tỷ phú trong nước chưa nhiều. Doanh thu chỉ có thể trông chờ ở khách ngoại quốc, nhưng nói riêng các nước trong khu vực muốn sang Đà Lạt chơi golf phải “quá cảnh” mất cả ngày đường từ các sân bay quốc tế trong nước. Nếu sân bay Liên Khương mở tuyến đường bay quốc tế thì chỉ cần 2 giờ đồng hồ, du khách các nước trong khu vực sẽ đến được dịch vụ golf, nhưng tiếc thay, mơ ước đã nhiều năm, đến nay chưa trở thành hiện thực.
Năm 2001, theo đệ trình của Tổng cục Du lịch, Chính phủ đã có ý kiến chính thức đồng ý phát triển 4 khu du lịch trong nước, đó có khu du lịch ĐangKia – Suối Vàng. Tổng cục Du lịch chịu trách nhiệm cùng với Bộ kế hoạch – Đầu tư, Bộ tài chính và Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng xem xét, làm việc với Singapore để thúc đẩy đầu tư xây dựng dự án. Chắc chắn ĐangKia – Suối vàng sẽ thoát hẳn khỏi bế tắc do hậu quả của khủng hoảng tài chính trong khu vực để lại. Cơ hội tăng tốc Du lịch Lâm Đồng – Đà Lạt đã chớm bước trở lại. Để chuẩn bị mọi điều kiện thật tốt đón nhận cơ hội này, thiết nghĩ Du lịch Lâm Đồng – Đà Lạt cần tập trung xây dựng, nâng cao ý thức toàn xã hội một cách đầy đủ hơn về Du lịch và phát triển thế mạnh du lịch sinh thái đồng thời với việc đầu tư, đổi mới sản phẩm du lịch đặc thù. Chỉ có tiến hành đồng bộ như thế mới đưa ngành kinh tế động lực này “cất cánh” lên tầm cao mới.
Văn Việt – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT- DL – Hà Nội – Năm 14(179)2000

Du lịch Lâm Đồng tăng tốc? – Phần 1

Nói đến Lâm Đồng – Đà Lạt, từ lâu người trong nước và quốc tế vẫn thường liên tưởng đến một vùng đất “hái ra tiền”. Bởi ở đó có thiên nhiên, khí hậu ôn hòa, con người thanh lịch và mến khách. Cũng bởi thế mạnh vốn có nên Lâm Đồng xem kinh tế Du lịch là ngành kinh tế động lực, riêng thành phố Đà Lạt luôn đặt lên vị trí là kinh tế mũi nhọn. Dù vậy hơn một thập kỷ qua, Lâm Đồng – Đà Lạt luôn đối mặt triền miên trước những thách thức do cơ chế cũ để lại: Rừng bị phá, môi trường bị xâm hại nghiêm trọng, khiến cho mô hình du lịch sinh thái phải chịu sự gián đoạn, manh mún. Trong khi đó, sự phát triển mất cân đối ngay trong bản thân ngành Du lịch, dẫn đến nhiều than phiền từ phía du khách. Nếu như những năm 94, 95, 96 lượng khách du lịch đến Lâm Đồng – Đà Lạt tăng nhanh thì vài năm kế tiếp, lại giảm xuống gần như đột biến. Ý kiến của nhiều du khách là đến Lâm Đồng – Đà Lạt chỉ để “đổi gió” rồi ăn ngủ, còn sinh hoạt, giải trí thì nhàm chán và đơn điệu, đã làm nhức nhối những nhà du lịch tâm huyết của địa phương. Rất mừng “Điểm hẹn du lịch năm 2000” đã khởi đầu cho những ấn tượng mới, tốt đẹp hơn trong lòng du khách về một thiên đường du lịch đầy triển vọng trong tương lai.
Ngành du lịch của tỉnh đã xúc tiến mạnh mẽ việc quảng bá về tiềm năng, cũng như những nét độc đáo về du lịch của địa phương với nhiều hình thức đa dạng. Những hội chợ lớn giới thiệu về Du lịch Lâm Đồng từ Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đến các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam Bộ, hoặc một liên hoan văn hóa ẩm thực tại Đà Lạt đã thu hút sự chú ý đặc biệt của “quan khách” nội địa và quốc tế, đem lại bước thành công trong hoạt động mới mẻ này. Du khách được nghe, hình dung đầy đủ về một diện mạo mới của Du lịch Lâm Đồng – Đà Lạt. Chẳng những thế, bước chân lên Lâm Đồng, du lịch khách đã dần dần xóa đi mọi buồn chán cố hữu khi dạo chơi, thưởng ngoạn trên 20 thắng cảnh đưa vào hoạt động. Du khách muốn leo núi có đỉnh LangBian với đầy đủ những dịch vụ đáp ứng nhu cầu. Muốn du lịch dã ngoại có khu Tuyền Lâm (Đà Lạt), thác ĐamBri (Bảo Lộc). Còn nữa, những tuyến du lịch mới như thác Voi (Lâm Hà), thác BobLa (Di Linh) có đường ô tô đi đến nơi, đang trở thành những điểm hẹn với nhiều khám phá thú vị. Hầu hết những cánh rừng nơi thắng cảnh đều xanh trở lại. Nơi nào cũng đều có các hình thức phục vụ đa dạng, thuận lợi, nhờ vậy đã thu hút hơn 3,3 triệu lượt khách tham quan vào năm 2000. Đáng kể nhất, Công ty DVDLVC Lâm Đồng đã tạo hấp dẫn khách du lịch khi vừa “trình làng” với 60 xe taxi, xe vận chuyển khách đường dài chất lượng cao; 68 thuyền gỗ, xuồng máy cải tiến, hoạt động mới. Con số 45 ngàn khách lữ hành, nội địa sử dụng dịch vụ là những tín hiệu tốt lành cho hoạt động “bổ trợ” này… Đến nay, Lâm Đồng có tất cả 385 khách sạn, trong đó 19 khách sạn được phong sao. Khách sạn 5 sao Palace được đánh giá là khách sạn đẹp nhất Đông Nam Á.
Từ những nỗ lực của “Điểm hẹn năm 2000”, Du lịch Lâm Đồng – Đà Lạt đã tiếp đón 725 ngàn lượt khách, tăng 100 ngàn lượt khách so với năm 1999, trong đó khách quốc tế là 71 ngàn, khách nội địa là 654 ngàn; tổng doanh thu đạt gần 200 tỷ, vượt chỉ tiêu được giao. Nhìn lại những kết quả khả quan này, mừng nhiều, nhưng sẽ còn quá sớm để vội thỏa mãn chính mình; khi mà áp lực “tăng tốc” ở thiên niên kỷ mới đã không cho phép Du lịch Lâm Đồng – Đà Lạt laonh quanh khai thác “cái đang có” để rồi rơi vào thế tụt hậu. Vậy Lâm Đồng – Đà Lạt phải làm gì để tháo gỡ mình tránh xa những nguy cơ ấy?
Văn Việt – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT- DL – Hà Nội – Năm 14(179)2000

Huế tổ chức Festival lần 2

Bộ Văn hóa – Thông tin và Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên – Huế, vừa họp bàn kế hoạch chuẩn bị tổ chức Festival Huế lần 2. Được biết, thời gian diễn ra lễ hội văn hóa có quy mô lớn nhất cả nước sẽ là tháng 5/2002. Dự tính, Festival Huế sẽ được tổ chức hoành tráng hơn lần đầu vào tháng 4 năm 2000. Tỉnh Thừa Thiên – Huế chịu trách nhiệm chủ trì công tác tổ chức. Bộ Văn hóa – Thông tin thực hiện các hoạt động văn hóa, văn nghệ, đạo diễn, chỉ đạo nghệ thuật các chương trình và điều phối lực lượng nghệ thuật trực thuộc Bộ tham gia lễ hội … Festival Huế 2002 sẽ có đại diện một số nước trong khu vực ASEAN tham dự. Các cơ quan chỉ đạo sẽ sớm tiến hành các thủ tục và công việc chuẩn bị từ sớm.
Quảng Ngãi: khu chứng tích Sơn Mỹ được nâng cấp thành bảo tang quốc gia
Nhân kỷ niệm 33 năm sự kiện xảy ra vụ thảm sát 504 thường dân ở Sơn Mỹ thành Bảo tàng quốc gia. Theo kế hoạch nâng cấp, toàn bộ khuôn viên của khu chứng tích sẽ được mở rộng lên 6.000 m²; phục dựng toàn bộ các di tích và hiện trường xảy ra vụ thảm sát, sưu tầm và bổ sung các hiện vật liên quan đến vụ thảm sát. Dự kiến, công trình sẽ được triển khai thực hiện trong năm nay, với tổng kinh phí khoảng 15 tỷ đồng.
Khánh Hòa phê duyệt dự án khu thương mại – Du lịch Hải Đảo
Vừa qua, Ủy ban Nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã phê duyệt dự án xây dựng công viên Hải Đảo với nhiều hạng mục công trình mới. Dự án sẽ thay đổi cơ bản hiện trạng, xây dựng mới khu thương mại – dịch vụ, khu có các trò chơi hiện đại (gồm tàu lượng siêu tốc, đường đua ô tô công thức 1, thuyền vượt thác, thảm bay, tàu điện trên không …), khu công viên nước, khu thể thao, cáp treo từ công viên ddeend tháp bà Ponagar … Tổng mức vốn đầu tư là 150 tỷ đồng. Dự kiến, công trình sẽ hoàn thành và đưa vào hoạt động trong năm 2002.
Nam Định khai mạc lễ hội Phủ Giày
Lễ hội Phủ Giày kéo dài 1 tuần đã được khai mạc vào sáng ngày 27/3/2001 (tức 3/3 năm Tân Tỵ), tại khu di tích Phủ Giày, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản với các hoạt động: lễ dâng hương, lễ rước kiệu, rước đồng, thi hát chầu văn, thi đấu cờ đèn dưới nước, thả đèn trời, kéo chữ và biểu diễn nghệ thuật.
Hà Nội khảo sát tình trạng ép mua ép giá khách du lịch
Theo dự kiến vào đầu tháng 5/2001, Sở Công an và Sở Lao động – Thương binh – Xã hội Hà Nội sẽ tiến hành khảo sát tình hình ép mua, ép giá (EMEG) khách du lịch tại 11 điểm di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, khách sạn lớn và địa bàn giáp ranh. Đợt khảo sát nhằm xác định các tụ điểm và mức độ phức tạp của từng tụ điểm; đánh giá số lượng, độ tuổi đối tượng, mức độ phức tạp của tệ ép mua ép giá để đề xuất biện pháp giải quyết với Ủy ban Nhân dân thành phố. Đối tượng được khảo sát bao gồm những người bán sách báo, đồ lưu niệm, ăn xin, đánh giầy … có hành vi vi phạm.
Được được biết hiện nay tình trạng người bán hàng rong đeo bám, ép mua ép giá khách du lịch tại Hà Nội diễn ra khá phức tạp song một số biện pháp giả quyết lại chưa phù hợp.
Tiến Hà – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Năm 13 (178) 2001.

Nghệ An đón mùa du lịch năm 2000

Tháng 5 cả nước rộn rã diễn ra những hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao cùng các công trình lớn hướng tới chào mừng lần thứ 110 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Ở quê hương Bác vào tháng 5 lịch sử, nhiều điểm du lịch nổi tiếng ngỡ quá tải. 35 đoàn tham gia Liên hoan tiếng hát từ Làng Sen toàn quốc, 7 đoàn hội diễn sân khấu chuyên nghiệp về đề tài Bác Hồ, giải bóng chuyền công nhân viên chức toàn quốc 14 đội và hàng ngàn lượt khách quốc tế đến quê hương Bác, Cửa Lò và các điểm du lịch khác.
Thành lập năm 1994, Du lịch được voi là mũi nhọn kinh tế non trẻ trong nền kinh tế của Nghệ An. Bằng nội lực và được các ngành liên quan hỗ trợ Du lịch Nghệ An sớm khẳng định vị thế trong nền kinh tế địa phương. Theo số liệu của Sở Du lịch Nghệ An: Năm 1999 có 8.500 đoàn khách tới tham quan quê Bác và nghỉ mát ở biển Cửa Lò, trong đó có 4.500 khách nước ngoài của hơn 30 quốc gia. Trong tháng 5/2000 diễn ra hội thảo “Phát triển kinhy tế du lịch 2001 và 2005” ba nước Việt Nam – Lào –Thái Lan hội thảo về việc nhập đường 8 thành bộ phận của trục xuyên Á. Vậy nên, dự tính năm 2000 số khách đến Nghệ An sẽ nhiều hơn năm trước.
Đón bắt vận hội mới: UBND tỉnh Nghệ An đã hỗ trợ cho nghành Du lịch 20 triệu đồng để tuyên truyền quảng cáo, Tổng cục Du lịch Việt Nam tài trợ 30 băng-rôn, 500 áp phích “Việt Nam – Điểm đến của thiên niên kỉ mới”. Hai pa-nô quảng cáo du lịch lớn, mỗi tấm trên 30 triệu đồng, Viện nghiên cứu phát triển Du lịch của Tổng cục Du lịch cử đoàn về khảo sát hỗ trợ kinh phí trùng tu sửa chữa khu di tích Kim Liên. Dẫu đang bận rộn, chúng tôi cũng được ông Chu Đình Việt – Phó giám đốc sở Du lịch dành cho một cuộc trao đổi ngắn. Ông cho biết: Được sự quan tâm giúp đỡ về vật chất lẫn tinh thần của Tổng cục Du lịch và lãnh đạo tỉnh, Sở Du lịch Nghệ An đã chỉ đạo các khách sạn củng cố trang thiết bị, mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ lễ tân, buồng, bàn, quầy bar cho 60 người. Tập huấn phòng chống HIV cho 40 người, ký hợp đồng lao động với số lao động thời vụ, đồng thời phối hợp với lực lượng Công An thành phố Vinh, Công An thị xã Cửa Lò bảo đảm an toàn cho khách. Hiện nay thị xã Cửa Lò có 58 khách sạn, nhà nghỉ gồm 1.450 phòng, 3.500 giường. So với năm 1999 thì năm 2000 thị xã Cửa Lò tăng thêm 200 phòng. Cùng với các khách sạn tại thành phố Vinh, toàn tỉnh Nghệ An có khoảng 100 khách sạn, nhà nghỉ. Đến nay mọi công việc chuẩn bị đón khách đã hoàn tất.
Chúng tôi đến Công ty Phương Đông, nơi đã đưa khách sạn Phương Đông vào phục vụ khách trong dịp Liên hoan tiếng hát làng Sen năm 2000. Giám đốc Trần Ngọc Khoan cởi mở: sáng 15/5/2000 khách sạn Phương Đông mở cửa đón các đoàn nghệ thuật quần chúng trong cả nước. Ngày 19/5/2000 UBND tỉnh, Sở Du lịch Nghệ An đã chính thức khánh thành đưa khách sạn Phương Đông (giai đoạn 1) vào khai thác sử dụng.
Khách sạn Phương Đông ca 11 tầng không kể tầng kỉ thuật, bao gồm 170 phòng khép kín, cầu thang máy, 3 cầu thang vận chuyển hành khách và hai cầu phục vụ dịch vụ nội bộ. Với hệ thống trang thiết bị mới lạ, hiện đại kết hợp vs truyền thống dân tộc, đây là một bước tiến quan trọng của Du lịch Nghệ An trong việc phục vụ khách du lịch tuyến Lào và Đông Bắc Thái Lan. Thực tế vào những năm gần đây, mỗi năm có khoảng 10.000 khách Lào,Thái Lan sang Việt Nam. Nghệ An đã chủ trương lược bớt thủ tục xuất nhập cảnh để tạo thuận lợi cho số lượng khách hàng tăng thêm trong hè 2000. Sau khi đưa khách sạn vào khai thác giai đoạn 1 với 90 phòng nghỉ cùng các khâu dịch vụ khách, các tầng còn lại tiếp tục hoàn thiện theo hình thức cuốn chiếu để đúng với mục đích đặt ra.
Khách sạn Phương Đông ra đời là bước đột phá về phục vụ nơi ăn chốn nghỉ của Du lịch Nghệ An, nhằm tạo bước phát triển mới trong lĩnh vực du lịch trên quê hương Bác. Hiện nay theo đánh giá của Tổng cục Du lịch, nghành Du lịch Nghệ An là một trong những điểm du lịch giàu tiềm năng của cả nước. Với sự ưu đãi của thiên nhiên và địa danh vốn có của mình được các nghành quan tâm, du lịch Nghệ An đang nổ lực phấn đấu trở thành trung tâm du lịch ở khu vực các tỉnh miền Trung, tỏa ra cả nước và bè bạn.
Bích Hạnh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(135)2000.