Ban chỉ đạo nhà nước về du lịch họp phiên thứ hai

Ngày 7/8/1999, tại Hà Nội, Ban chỉ đạo Nhà nước về Du lịch đã họp phiên thứ hai dưới sự chủ trì của Phó Thủ tướng, Trưởng ban Chỉ đạo Nhà nước về Du lịch Nguyễn Mạnh Cẩm.
Tổng cục trưởng TCDL, Phó Ban Chỉ đạo Nhà nước về Du lịch Võ Thị Thắng đã báo cáo tình hình hoạt động của ngành Du lịch nhằm triển khai Pháp lệnh Du lịch, Chương trình hành động quốc gia về Du lịch và các sự kiện Du lịch năm 2000; một số kết quả bước đầu của sự phối hợp hoạt động giữa TCDL với các thành viên thuộc Ban Chỉ đạo Nhà nước về Du lịch gắn với nội dung đã được thông qua tại phiên họp thứ nhất (ngày 20/3/1999); đồng thời kiến nghị với Chính phủ và Ban chỉ đạo về việc tập trung giải quyết một số vấn đề còn vướng mắc trong qua trình triển khai hoạt động. Tổng cục trưởng Võ Thị Thắng đã nêu lên một số nội dung quan trọng trong kế hoạch hoạt động của những tháng còn lại năm 1999.
Một lần nữa, tại phiên họp này Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cẩm đã khẳng định tầm quan trọng của sự phối hợp liên ngành trong công tác thúc đẩy phát triển Du lịch, nhằm khai thác tốt tiềm năng du lịch to lớn của đất nước. Phó Thủ tướng đề nghị các thành viên Ban Chỉ đạo nên tập trung bàn biện pháp tháo gỡ những vấn đề mà TCDL kiến nghị, đồng thời thực hiện tốt chương trình 2 năm, trong đó có việc tổ chức các sự kiện du lịch gắn với lễ hội văn hóa dân tộc trong năm 2000.
Các thành viên tham dự phiên họp đã nhất trí cần phải giải quyết ngay những vấn đề mà TCDL kiến nghị, đó là: đảm bảo an ninh an toàn cho du khách tại các điểm du lịch; đơn giản hóa thủ tục, lệ phí cấp visa, mở rộng địa điểm xuất nhập cảnh của du khách quốc tế; sớm hoàn thiện quy chế thống nhất cho phép các phương tiện giao thông đường bộ của khách du lịch quốc tế vào Việt Nam… Hầu hết các ý kiến đều khẳng định ngành mình đã có kế hoạch cùng phối hợp với TCDL và các ngành liên quan triển khai và tìm biện pháp thực hiện tốt những nội dung của chương trình hành động quốc gia về du lịch và tổ chức thành công các sự kiện du lịch năm 2000.
Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cẩm đã kết luận phiên họp nhấn mạnh: 6 nội dung của CTHĐQG đều quan trọng và cần được triển khai thực hiện đồng thời. Nhưng trước mắt nên tập trung vào 2 vấn đề chính là tôn tạo, xây dựng cơ sở vật chất tại các biện pháp thực hiện kế hoạch năm 2000 kết hợp với các sự kiện, lễ hội nhằm thúc đẩy du lịch hoạt động sôi nổi hơn, tạo đà cho các năm sau. Phó Thủ tướng giao nhiệm vụ cho TCDL sớm tổ chức hội nghị lãnh đạo các tỉnh các ngành ngoài ban chỉ đạo nhằm làm rõ nhận thức về du lịch. Từ đó các địa phương, các ngành thấy rõ trách nhiệm và lợi ích của mình đối với hoạt động phát triển du lịch.
Tin, ảnh: Bùi Hỏa Tiễn
Khai mạc hội nghị lần thứ VII
Ban chấp hành trung ương đảng (Khóa VIII)
TTXVN – Sáng 9-8-1999, tại Hà Nội đã khai mạc Hội nghị toàn thể lần thứ VII Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII)
Các đồng chí Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng đã tham dự Hội nghị.
Hội nghị tập trung thảo luận và quyết định về các nội dung: Đối mới và kiện toàn một bước tổ chức bộ máy hệ thống chính trị: cải tiến một bước chính sách tiền lương, chính sách trợ cấp xã hội thuộc ngân sách Nhà nước và những công việc chuẩn bị cho Đại hội lần thứ IX của Đảng.
Trong phiên khai mạc, đồng chí Tổng bí thư Lê Khả Phiêu có bài nói quan trọng.
Tuần Du lịch- Tổng cục Du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Vĩnh biệt nhà thơ

Ai cũng biết ông là Trần Hữu Thung. Gọi được như vậy vì bài thơ Thăm lúa của ông đã đi vào mọi thế hệ học sinh từ cuối thời kháng chiến chống Pháp. Bài thơ đem lại vẻ vang cho ông và làm nên tên tuổi ông sau khi được Huy chương vàng tại đại hội Liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới tại Bucarét năm 1953.
Thành công vẻ vang của bài thơ Thăm lúa đã khắc họa tên tuổi ông vào với nền văn học kháng chiến. Cùng với một loạt tác phẩm thơ thời ấy như Nhớ của Hồng Nguyên, Đêm nay bác không ngủ của Minh Huệ, Đầu súng trăng treo của Chính Hữu, Viếng bạn của Hoàng Lộc, Chiều mưa đường số năm của Thâm Tâm… đã nâng tầm người lính Cụ Hồ cùng với người dân một lòng một dạ đoàn kết kháng chiến.
Sinh ngày 21 tháng 7 năm 1923 trong một gia đình nông dân ở làng Trung Phương xã Diễn Minh, huyện Diễn Châu, từ bé đã quen với công việc cày cấy ruộng đồng. Ông tham gia hoạt động cách mạng khá sớm.Ông tham gia hoạt động cách mạng khá sớm. Tháng 1 năm 1945 ông tham gia phong trào Việt minh ở địa phương và giành lại chính quyền cách mạng ở xã. Ông là Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính đầu tiên xã Hồng Lĩnh (tức xã Diễn Minh hiện nay) và làm phó Bí thư chi bộ. Tháng 5 năm 1948 ông được dự lớp học văn hóa kháng chiến tại Thanh Hóa. Kể từ đó nhà thơ bắt đầu chuyên sâu vào hoạt động công tác văn hóa văn nghệ. Năm 1957 tạm biệt quê hương khu IV, ông ra Hà Nội, làm cán bộ Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, Ủy viên Ban chấp hành Hội sinh viên học sinh Việt Nam, Ủy viên ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam và tham gia Ban biên tập Tuần báo Văn nghệ. Nhưng rồi cái chất quê kiểng khiến ông nhớ da diết vùng quê Xứ Nghệ. Cuộc sống thị thành không níu giữ được ông. Năm 1965, ông tình nguyện về quê hương tham gia xây dựng Hội văn nghệ địa phương, làm Phó Hội trưởng Hội văn nghệ Nghệ An, Chủ tịch Hội văn nghệ Nghệ Tỉnh. Năm 1987 ông về hưu tại xóm 7 xã Diễn Phúc, huyện Diễn Châu, Nghệ An, cạnh bệnh viện huyện, nơi vơ ông đang công tác.
Bà con Nghệ Tĩnh yêu mến nói Trần Hữu Thung là nhà thơ của họ. Suốt đời ông sống dân giã, bình dị, trung thực. Nhà thơ tạo cho mình cốt cách riêng, có dáng dấp của anh thợ cày, ông đồ nho xứ Nghệ, cậu ấm thành Vinh, nên thơ ông đi sâu vào trí nhớ của bà con Thanh – Nghệ – Tĩnh. Cùng với Thăm lúa, ông có những đóng góp đáng kể qua các tác phẩm: Anh vẫn hành quân, Vinh rực lửa, Đại ngàn, Ký ức đồng chiêm… Ngoài giải quốc tế ông còn được giải nhất về ca dao lớp văn hóa kháng chiến năm 1948, giải khuyến khích của Hội nhà văn Việt Nam cho tập Hai Tộ hò khoan, giải nhất thơ Nghệ An năm 1952, Giải nhất cuộc thi ký của Đài tiếng nói Việt Nam và báo Văn nghệ năm 1981.
Liên tục năm mươi năm cầm bút, hồi 18 giờ 20 ngày 31 tháng 7 năm 1999 nhà thơ Trần Hữu Thung đã trút hơi thở cuối cùng tại nhà riêng ở Diễn Châu.
Ông ra đi giữa mùa gieo trồng vụ mới. Tưởng như ông vừa vác cuốc ra đồng. Tưởng như quanh ông vẫn ngân nga một giọng ầu ơ bên lũy tre làng:
“Mặt trời vừa lên tỏ
Bông lúa chín thêm vàng
Sương treo đầu ngọn cỏ
Sương lại càng long lanh…”
Tô Đức Chiêu – Tuần Du lịch – 1999

Vận động nhưng phải kiên quyết đấu tranh

Trong sự nghiệp lãnh đạo đổi mới, xây dựng đất nước, Đảng ta đã đạt được nhiều thắng lợi to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu cơ bản, chúng ta còn bộc lộ một số yếu kém trong công tác xây dựng Đảng. Trong đó vấn đề rất đáng quan tâm là việc chống tham nhũng, quan liêu và thực hành tiết kiệm chưa đạt được kết quả mong muốn. Do đó chưa đáp ứng được nguyện vọng của đông đảo nhân dân. Một số Đảng viên suy thoái về đạo đức, lối sống, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Các thế lực thù địch trong và ngoài nước đã lợi dụng cơ hội đó để chống phá, thực hiện “diễn biến hòa bình” đối với Đảng ta. Vì vậy, bên cạnh việc vận động giáo dục, Đảng viên, Đảng ta cần phải tiến hành cuộc đấu tranh kiên quyết ngay trong nội bộ của mình mới tạo được sự chuyển biến cơ bản, sâu sắc.
Trước hết phải đề cao vai trò của quần chúng nhân dân trong cuộc chiến hết sức phức tạp này. Cội nguồn của nạn tham nhũng, thoái hóa đạo đức, lối sống chính là tệ đút lót, hối lộ, biếu xén….trở thành một thói hư, tật xấu. Chúng gặm nhấm dần phẩm chất của một bộ phận cán bộ Đảng viên. Tệ nạn này được xem là một loại giặc “nội xâm”. Thật nguy hiểm khi chúng lại lẩn quất trong vỏ bọc tinh vi, tráo trở. Nếu không biết dựa vào tai mắt của quần chúng nhân dân thì rất khó phát hiện để giáo dục, đấu tranh. Hơn nữa quần chúng nhân dân là lực lượng dễ bị lợi dụng và trực tiếp phải gánh chịu hậu quả bởi niềm tin và lòng trung thành. Do đó Đảng cần tập hợp quần chúng nhân dân đoàn kết, tham gia làm trong sạch đội ngũ chiến đấu của Đảng ở ngay từng chi bộ, Đảng bộ cơ sở…
Thực tế hiện nay, khi phát hiện ra những cán bộ, Đảng viên hư hỏng, thoái hóa biến chất, một số cơ sở, cấp Đảng bộ chưa có sự đấu tranh kiên quyết. Cũng có thể vì mục đích bảo vệ nội bộ mà những cán bộ, Đảng viên đó chỉ phải thay đổi vị trí công tác, mà không bị loại trừ hoàn toàn. Do đó ở cương vị công tác mới, họ lại tiếp tục sa đà vào những thói hư tật xấu càng trở nên nguy hiểm, ngày càng gây mất lòng tin trong nhân dân.
Đành rằng sự “cắt bỏ” nào cũng lại nỗi đau, nhưng như thế không có nghĩa chúng ta cứ để những ung nhọt hủy hoại dần một cơ thể sống đang cường tráng, rắn rỏi. Những kẻ nịnh bợ, tạo vây cánh, cơ hội gây mất đoàn kết, chạy theo lối sống thực dụng…Đảng cần kiên quyết “cắt bỏ” bằng cách loại trừ ra khỏi đội ngũ Đảng, bộ máy Nhà nước. Đó cũng là quy luật tuy ngặt nghèo nhưng tất yếu trong xây dựng Đảng. Có như vậy chúng ta mới củng cố và bảo vệ sự trong sạch, vững mạnh cũng như uy tín của Đảng.
Hoàng Hương – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Điểm du lịch trên cao ở Thành phố Hồ Chí Minh

Ở vào thời điểm hiện tại, tòa nhà Trung tâm Thương mại Sài Gòn có độ cao nhất Thành phố Hồ Chí Minh. Toà nhà có 33 tầng, nằm ở số 37 đường Tôn Đức Thắng, quận 1. Ở đây, ngoài chức năng cho thuê văn phòng hiện đã có nhiều doanh nghiệp trong nước, quốc tế đóng trụ sở giao dịch thương mại… toà cao ốc này còn là điểm du lịch kỳ thú đối với du khách trong nước và quốc tế đến Thành phố Hồ Chí Minh. Hàng ngày từ 10 giờ sáng tới 11 giờ đêm, từ tầng G, chỉ sau chưa đầy 3 phút bằng thang máy, du khách đã đặt chân lên tầng 32, 33 (hoàn toàn miễn phí). Một khoảng khắc choáng ngợp lập tức cuốn hút du khách bởi toàn cảnh thành phố hiện ra rực rỡ. Dạo một vòng xung quanh tầng lầu, du khách được chiêm ngưỡng cảnh đẹp thành phố ở cả bốn bề. Hướng đông nam là khu trung tâm quận 1 sầm uất với những toà nhà cao tầng hiện đại, vươn sát tới bờ sông Sài Gòn uốn lượn. Hướng đông bắc, bên kia bờ sông là cả một màu xanh mượt mà lựa như lá phổi lớn của thành phố… Nhìn từ trên cao, chuyện nhâm nhi với ly cà phê hoặc các loại đồ ăn uống khác. Tuy nhiên xin nhắc một điều, mọi thứ ở đây không có giá dưới 2,3 đô la. Hàng ngày từ 2h30 chiều, nhà hàng phục vụ theo phương thức trọn gói, 4,5 đô là với người lớn, 3 đô la với trẻ em. Bằng số tiền đó, du khách sẽ được thưởng thức các loại bánh ngọt, đồ uống theo nhu cầu. Với nhiều người dân lao động có thu nhập thấp thì chi phí cho cuộc thưởng ngoạn này tuy rằng cao, nhưng cũng không phải là khó để có được một lần thưởng thức. Xin mách nhỏ: nếu không có tiền bạn vẫn có thể lên và làm một vòng quanh nhà hàng rồi xuống mà không ai bị trách cứ.
Thành phố Hồ Chí Minh: bắt đầu chương trình đón 150.000 khách quốc tế bằng đường tàu biển
Sáng 7-9-1999, con tàu lớn nhất và hiện đại nhất của Hãng Du lịch tàu biển Star Cruises (Malaysia) mang tên Super Star Leo đã đưa 2.000 khách du lịch quốc tế cập cảng Thành phố Hồ Chí Minh, mở màn cho một chương trình du lịch kéo dài từ tháng 9/1999 – 10/2000 do Saigon Tourist phối hợp với Star Cruises tổ chức. Theo chương trình này, hàng tuần 3 chiếc tàu biển của Star Cruises sẽ thay nhau đưa khách du lịch quốc tế tới thăm các điểm du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Nha Trang, Côn Đảo, Phú Quốc, Hạ Long. Thông qua chương trình này, Saigon Tourist dự kiến đón khoảng 150.000 lượt khách (so với năm 1999 là 8.690 lượt và năm 1997 là 3.440 lượt).
A.K – Tuần du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999

Nghe ca Huế trên sông Hương

“Du khách đến Huế, nếu không nghe ca Huế trên Sông Hương thì coi như chưa đến Huế”. Đó là lời phát biểu của rất nhiều người mỗi khi nhắc đến Huế. Thật vậy. Những điều không trông thấy mà chỉ nghe, nghĩ liên tưởng, hoài niệm về Huế cổ xưa chỉ có thể tìm được qua Ca Huế. Qua Ca Huế, du khách có thể trở lại với cố đô với một thời vàng son cùng những dấu ấn văn hóa rực rỡ; những bi kịch của lịch sử gắn với gắn với bao số phận như hiện về qua từng làn điệu. Đêm, Sông Hương rực rỡ ánh đèn. Đêm trên cột cờ ở Phú Văn Lâu, đèn trên cầu Tràng Tiền, cầu Phú Xuân; đèn ở khách sạn Hương Giang…..Tất cả chiếu xuống dòng sông lấp lánh ánh bạc. Sông Hương bao la bắt đầu với một đêm của lời ca tiếng hát.
8 giờ đêm, thuyền rồng rời bến Phú Văn Lâu, ngược dòng đến trước Chùa Thiên Mụ rồi tắt máy, thả cho thuyền lững lờ trôi. Cả con thuyền như một phòng khách sạn sang trọng và ấm cúng. Giọng con gái Huế mượt mà chào mời, lời ca cất lên, tiếng réo rắt của đàn tranh, dập dìu của sáo, ấm áp, ngân sâu của đàn bầu, tất cả như thâu tóm cả không gian. Lòng du khách như say theo nhịp phách với những khúc vui tươi của Cổ Bản, Non nước Hương – Bình, khúc Long Ngâm rộn ràng, giọng ca trong trẻo của Phú Lục…Chúng tôi thực sự bị cuốn hút bởi tiết mục Chầu văn của nghệ sĩ Ái Hoa với những buồn vui sướng khổ của thân phận con người. Rồi giọng ca ấm áp, luyến láy tài tình trong điệu hò mái đẩy, nghe Nam Ai, Nam Bình mà nước mắt cứ muốn trào ra dẫu lòng đâu muốn khóc. Thương cho thân phận của công chúa Huyền Trân hy sinh đời mình vì quốc gia dân tộc, thương cho thân phận lưu đày của vua yêu nước Duy Tân nơi đất khách quê người. Thật nao lòng khi nghe câu mái đẩy:
“Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non”.
Thuyền vẫn trôi lững lờ trên sông, giọng ca của những cô gái Huế vẫn mượt mà bên tai du khách, nhưng thời gian thì như ngưng tụ lại với hoài niệm cổ xưa. Rồi bỗng như vỡ òa ra với nhịp xô “hò giã gạo” những câu hát đối đáp thắm tình trai gái, đưa du khách trở về với không khí sinh hoạt cộng đồng ngày xưa: lam lũ nhưng lạc quan yêu đời.Tình yêu gái trai chân chất mà thơ mộng. Đó phải chăng là nét cốt cách của người Huế.
Chúng tôi thực sự bị cuốn hút bởi những ngón tay uyển chuyển của những cô gái Huế. Mỗi người 4 chiếc ly uống trà, qua bàn tay tài hoa của họ, những chiếc ly đã trở thành những thứ nhạc cụ tuyệt vời.
Không chỉ có cổ xưa. Huế bây giờ cũng thật thơ mộng với “Mưa trên phố Huế”, “Đây thôn Vĩ Dạ”, rồi “Huế thương”, “Người con gái Huế”….qua giọng ca ấm áp, ngọt ngào của Hương Giang, Mai Lê, Kim Oanh….tôi hỏi nghệ sĩ Ái Hoa: “Mỗi tối ca Huế phục vụ du khách các chị được bồi dưỡng bao nhiêu?”…chị cho biết: “Mỗi suất một tiếng rưỡi, được bồi dưỡng từ 25.000 – 30.000 đồng/người. Không nhiều, nhưng thu nhập đều cũng sống được với nghề. Hơn nữa, lại là nghề tay trái mà”. Du lịch Huế là du lịch văn hóa – lịch sử. Vì vậy, bảo tồn và phát huy cái giá trị văn hóa nghệ thuật dân tộc là việc làm luôn được các ngành chức năng ở Huế chú tâm. Ca Huế cũng nhờ đó mà được phục hồi và được xem là một sản phẩm du lịch không thể thiếu trong các tour du lịch mỗi khi ghé Huế.
Nghe ca Huế là một điều thích thú nhưng để hiểu ca Huế, yêu ca Huế hơn, thiết nghĩ cần có những người thật am hiểu âm nhạc lịch sử để hướng dẫn du khách. Ca Huế cần một chiều sâu văn hóa thật sự mới có thể tăng thêm hứng thú cho du khách.
Nguyễn Vân – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(79)1999

Nghịch cảnh du thuyền Huế

Những năm đầu thập niên 90, thuyền rồng là tên gọi dịch vụ chờ khách nghe ca, có hai loại đơn có từ 20 ghế trở xuống và đôi có từ 100 ghế cho khách tùy sáng tạo và tiền vốn của nhà thuyền được sử dụng cho việc kinh doanh về văn hóa Huế, phục vụ cho tất cả những ai yêu thích đến với sông Hương: Ca huế – du thuyền thành nét hấp dẫn du khách và ca Huế – du thuyền thành một nghề làm ăn của một bộ phận người xứ sông Hương. Ca Huế trên sông Hương ngay từ đầu được Nhà văn hóa tỉnh Thừa Thiên Huế xếp vào một trong những giá trị văn hóa phi vật thể cần được bảo tồn và phát huy. Những bài Nam ai, Nam bình được sống lại và thu phục được khách bốn phương.
Ai đến Huế dù là Ta hay Tây là khách giới nghệ sĩ hay doanh nhân đều không bỏ qua dịp xuống thuyền du sông, nghe ca… Và với lượng khách có nhu cầu nghe ca ngày một đông có một vài chiếc thuyền ban đầu hùn vốn làm ra đã không đủ sức để đáp ứng. Thế là một dịch vụ đã mở ra không chỉ cho những ai biết kinh doanh loại hình văn hóa này mà cho bất kỳ ai có nhu cầu, trước hết là những người quen nghề sông nước, những vạn chài có “tư duy” làm ăn vượt quá mốc khai thác rong rêu, cát sạn. Thuyền ngự, thuyền quan ngày xưa được thay bằng thuyền rồng, thuyền cá ngày nay bằng đồng vốn ít ỏi của những kiếp người trôi nổi trên sông. Những con thuyền chở cát, chở rong được tu sửa bằng tiền gán mảnh đất mà Ủy ban Nhân dân tỉnh đã cấp cho họ trong những đợt định cư, hay vay nặng lãi… Vốn là người ít học, quen với các nghề sông nước, buôn bán nhỏ và khai thác cát sạn, đến khi định cư nghề nghiệp của dân vạn đò không ổn định, đời sống kinh tế hầu hết còn khó khăn để rồi lại xuất hiện tình trạng nửa đò, nửa nhà. Đất cứ nhận, thuyền vẫn ở… trước tuy đơn giản của người dân vạn đò, việc sơn sửa con thuyền quen thuộc tí chút hoặc bán luôn đất được cấp để mua thuyền, sửa thuyền… Kinh doanh “thuyền rồng”, “thuyền vua” thành một việc làm béo bở. Và thế là thời của thuyền rồng vạn đò xuất hiện. Sự sai lệch giữa người hướng dẫn du lịch kinh tế và cách suy tính thô mộc của người dân sông nước đã làm cho nét văn hóa phi thể – niềm tự hào của người Huế – về thú du thuyền – bị chao nghiêng. Thẩm mỹ, chất lượng, nét độc đáo và tầm quan trọng hình như không là cái chính trong việc kinh doanh của họ mà chủ yếu là các “tour”. Ban đầu một “tour” từ Huế lên Minh Mạng giá cho khách đi thuê từ 30 đến 400 USD tùy theo thuyền đơn hay thuyền đôi. Còn khách Ta thì thôi – Khách quen giá rẻ, khách rẻ giá lui, khách lúc đắt “chém đẹp”… Cảnh nhà nhà làm thuyền rồng chỉ 2 năm sau đó đã trở thành nỗi nhọc nhằn cho con sông Hương với bao chuyện tranh giành khách. Để thuận tiện nhất cho mình, các ông chủ đò đã tự tiện biến bất cứ chỗ nào dọc sông Hương làm bến đậu. Để cạnh tranh, thay vì tìm cách làm hợp lý như nâng cấp thuyền và chất lượng phục vụ thì các chủ thuyền luôn ra giá hạ. Hạ đến mức nhiều chuyến giá thuyền một “tour” trừ chi phí và hao mòn thì chỉ còn là con số âm. Mỗi “tour” giờ chỉ từ 189, 190 nghìn đồng đến 45 nghìn đồng. Gần 100 chiếc thuyền đậu rải rác trên 12 bến, mỗi bến có nội qui riêng của các ông chủ thuyền chủ bến, đa phần là mù chữ, giá cả các du thuyền độc lập. Vào mùa đông, mỗi chủ thuyền một tháng có thể có từ 7-12 “tour” khách. Mỗi chuyến trừ các khoản chi phí như dầu, tiền bến, cũng còn lại đủ nuôi một gia đình với đời sống ổn định, nhưng sau này do việc kinh doanh tràn lan, một tuần hoặc hơn tuần mới có một chuyến, đời sống của người cầm lái cũng bất ổn. Với tư duy đơn giản của người sông nước, bữa mai lo bữa hôm, họ “bỏ qua” các khâu hao mòn máy móc, thuyền bè: miễn có đồng tiền bát gạo trong ngày. Điều này không chỉ làm nền cho họ quay lại cảnh quần quật khi còn đò phục vụ – dịch vụ cũ, mà còn làm cho những người kinh doanh chính đáng bị ảnh hưởng. Cũng vì thu nhập bất ổn, người thuyền đò dùng thuyền dịch vụ làm nơi cho vợ con luôn nằm sau những tấm màn màu mè là một gia đình vạn chèo với nếp sống còn mông muội, thiếu thốn, thất học tạo nên bức tranh sông Hương hai mảnh tối sáng quá rõ, có thể làm cho du khách có cái nhìn sai lạc về Huế, về văn hoá Huế.
Những thuyền ngự, thuyền quan được bảo tồn trong một môi trường như Huế. Cái uy nghiêm, giá trị xưa của nó đánh đổi giá rẻ. Niềm tự hào của Huế, của sông Hương đang bị đè bẹp bởi một chút sự thiếu quy mô, thiếu nề nếp. Nó không những bảo vệ mà còn đang bị hoen ố dần. Ai đến Huế, sau khi du thuyền nghe ca đều không khỏi thả một tiếng thở dài tiếc nuối.
Có phải ta không thấy hay cố tình không thấy, những tiếng than ấy? Để rồi, từ việc bảo tồn phát huy giá trị văn hóa của dòng sông và hoạt động ca Huế trên sông trở thành những việc làm phá hoại một nền văn hóa Huế mà chỉ riêng Huế mới có.
Làm sao có biện pháp khả thi để giữ lại những gì trong lành cho Huế? Làm sao để tạo được cuộc sống ổn định cho các hộ kinh doanh thuyền du lịch, có bãi đỗ, có đội kiểm soát đường sông? Để du khách đến Huế cảm thấy được may mắn, vinh hạnh hiểu rõ về thuyền ngự, thuyền quan cho đúng nghĩa một thành phố có di sản văn hóa thế giới.
Nguyễn Phước Hương Lan – Tuần du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999

Về việc lập văn bản phòng đại diện, chi nhánh du lịch ở trong nước và nước ngoài

Ngày 8/7/1999, Thủ tướng Phan Văn Khải đã ký Nghị định của Chính phủ số 48/1999/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại và Pháp lệnh Du lịch về Văn phòng đại diện, Chi nhánh của thương nhân và của doanh nghiệp du lịch Việt Nam ở trong nước, ở ngoài nước. Nghị định có 5 Chương, gồm 14 điều.
Theo Nghị định này Văn phòng đại diện của thương nhân của doanh nghiệp du lịch được thành lập ở trong nước, ở nước ngoài để xúc tiến thương mại hoặc xúc tiến du lịch, nhưng không được hoạt động thương mại hoặc kinh doanh du lịch sinh lợi trực tiếp. Chi nhánh được thành lập ở trong nước, ở nước ngoài để hoạt động thương mại kinh doanh du lịch. Một doanh nghiệp có thể thành lập một hoặc nhiều Văn phòng đại diện, Chi nhánh. Trưởng Văn phòng đại diện này có thể kiêm làm Trưởng Văn phòng đại diện khác, nhưng Trường Chi nhánh này không được kiêm làm Trưởng Chi nhánh khác hoặc kiêm làm Trưởng Văn phòng đại diện. Đối với doanh nghiệp du lịch chỉ có doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế được thành lập Văn phòng đại diện, Chi nhánh ở nước ngoài.
Theo Nghị định này các Sở Du lịch (Sở Thương mại – Du lịch) nơi Văn phòng đại diện, Chi nhánh đặt trụ sở chịu trách nhiệm đăng ký thành lập Văn phòng đại diện, Chi nhánh ở trong nước của doanh nghiệp du lịch, Sở Du lịch (Sở Thương mại – Du lịch) nơi doanh nghiệp du lịch đặt trụ sở chính chịu trách nhiệm đăng ký thành lập Văn phòng đại diện, Chi nhánh và bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (có công chứng). Đối với việc đăng ký thành lập Văn phòng đại diện, Chi nhánh ở nước ngoài của doanh nghiệp du lịch thì hồ sơ ngoài đơn, bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp, còn phải có văn bản chấp thuận của Bộ, cơ quan quản lý ngành ở trung ương (đối với doanh nghiệp trực thuộc Bộ, ngành) hoặc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (đối với doanh nghiệp thuộc tỉnh, thành phố) và văn bản chấp thuận của Tổng cục Du lịch (đối với doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế).
Nghị định quy định rõ thủ tục, thời hạn giải quyết việc đăng ký, trách nhiệm của các doanh nghiệp, Văn phòng đại diện, Chi nhánh, thủ tục chấm dứt hoạt động của Văn phòng đại diện, Chi nhánh và trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đối với hoạt động của Văn phòng đại diện, Chi nhánh.
Anh Hậu (Vụ Pháp chế TCDL) – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 1999

2700 tỷ đồng cho dự án năng lượng nông thôn Việt Nam

Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt tổng thể Dự án năng lượng nông thôn Việt Nam do Tổng Công ty Điện lực Việt Nam làm chủ đầu tư. Nội dung và nhiệm vụ của dự án này là xây dựng hệ thống điện trung và hạ thế để cấp điện khoảng 700 xã thuộc 176 huyện của 32 tỉnh ở cả 3 miền Bắc – Trung – Nam nhằm phát triển kinh tế – xã hội các vùng nông thôn, miền núi thuộc những địa phương này. Theo kế hoạch, dự án được thực hiện trong vòng 4 năm, từ năm 2000 – 2003, với tổng vốn đầu tư ước tính hơn 2.700 tỷ đồng, trong đó, vay ở Ngân hàng Thế giới 150 triệu đô la Mỹ là 2100 tỷ đồng để mua sắm thiết bị vật tư, xây lắp, chi phí chuẩn bị đầu tư… Còn lại là vốn huy động trong nước, bao gồm vốn đối ứng từ chủ dự án, vốn từ ngân sách địa phương và vốn của các hộ dân sử dụng điện.
Người nghèo có thể vay vốn để đi làm việc ở nước ngoài
Hiện nay theo yêu cầu của Chính phủ, Bộ lao động Thương binh và Xã hội đang xây dựng một chính sách, cơ chế ưa đãi vay vốn tín dụng cho người nghèo có đủ tiêu chuẩn, điều kiện đi làm việc ở nước ngoài. Đối tượng được hưởng sự ưu đãi này là những người có đủ tiêu chuẩn theo hợp đồng với doanh nghiệp xuất khẩu lao động, ưu tiên người nghèo là đối tượng chính sách, người có công với cách mạng con liệt sỹ, người được hưởng chính sách như thương binh. Việc cho vốn sẽ áp dụng theo cơ chế phù hợp với điều kiện của đối tượng vay, phương pháp vay theo hình thức tín chấp do các đoàn thể như Đoàn Thanh niên, Hội phụ nữ.. đứng ra bảo lãnh. Được biết, mức vay tùy thuộc vào từng bước đi làm việc trên nguyên tắc đảm bảo cho người lao động nộp đủ các khoản lệ phí đặt cọc.
Vịnh Hạ Long
Cho sự hài lòng và tự ngợi ca. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là thu hồi vốn và nhận thấy những mục đích có thể và cân nhắc mà ông Tuấn cùng cộng sự của ông đưa ra. Nhưng quan trọng không kém là xác định những trách nhiệm ở phía trước. Nhiều vấn đề vật chất được mang đến hoặc giải quyết dưới sự giám sát hiệu quả và nhiều biện pháp sẽ được tiến hành nhằm giải quyết những phần lớn của vấn đề còn tồn tại. Thách thức lớn nhất đứng hàng đầu sẽ làm bật chiếc ô bảo vệ che chở cho những thành tố không thấy được nằm trên vi phạm những khu vực được bảo vệ nhưng lại mỏng manh như những hệ sinh thái và môi trường vịnh Hạ Long. Trong khi điều này có thể thu được thành tựu, đối với phạm vi giới hạn, bởi sự rộng hơn của khuôn khổ luật pháp thì giải pháp thực tế vẫn tăng lên và nhận thức của cộng đồng sẽ lớn hơn để nhận rõ tầm quan trọng của nuôi dưỡng và mong đợi không chỉ về tài sản địa lý và tự nhiên mà còn về quá khứ và văn hóa cuộc sống của người dân, trong đó những hoạt động của con người là một thành phần chủ yếu. Huy động sự giúp đỡ của cộng đồng thương mại và đô thị rộng lớn của Vịnh Hạ Long và Quảng Ninh cũng như sự gia tăng số du khách là rất cần thiết nhưng lại gây ra những ảnh hưởng thực tiễn đe dọa đến tương lai và giá trị mang tính toàn cầu của Vịnh Hạ Long. Ban quản lý Vịnh Hạ Long nhận thức đầy đủ về nhu cầu này và đặt nó lên hàng đầu trong những kế hoạch của họ trong tương lai. Bảo tàng sinh thái Vịnh Hạ Long sẽ mang lại một bộ máy để giải quyết vấn đề này. Tóm lại mặc dù thời gian của tôi ở Việt Nam tương đối ngắn, nhưng đã có một ý tưởng lớn hình thành. Tầm nhìn của ông Tuấn và những người lãnh đạo Quảng Ninh với một giải pháp lớn thực sự hoàn hảo. Tôi không nghi ngờ rằng họ sẽ tiếp tục làm tốt và đưa Vịnh Hạ Long lên hàng đầu trong việc quản lý một di sản thiên nhiên thế giới. Tôi xem nó như một vận hội lớn mang lại cơ hội chia sẻ những thách thức trước mắt tại cuộc họp này và tôi mời gọi tất cả những bạn sẽ trở thành thành viên của giấc mơ lớn này.
PV- Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 25(129)2000.

Trình phê duyệt dự án địa đạo Nam Hồng

Ngay trong năm 1998, hàng loạt các biện pháp bảo vệ, chống xuống cấp, tôn tạo và lắp hồ sơ xếp hạng di tích đã được thực hiện. Đã giải quyết 13 hồ sơ xếp hạng di tích, hoàn thành hồ sơ xếp hạng 3 di tích thuộc khu Thành Cổ (Bắc Môn, Đoan Môn, Hậu Lâu). Tiến hành khai quật khảo cổ học các di tích Hậu Lâu thành cổ… phát hiện nhiều hiện vật quý, giám định, lập xong 900 phiếu hiện vật ở di tích Cổ Loa, Ngọc Sơn và các cổ vật gửi Bảo tàng Hà Nội và đề cương sưu tầm. Công việc trùng tu di tích được tiến hành có bài bản hơn nhiều so với các năm trước đây như ở Cổ Loa, Ngọc Sơn, Hồ Văn, Đình Chèm, đình Quảng Bá, chùa Phụng Thánh, Chân Tiên, Yên Mỹ, Ngọc Trục, Thanh Lâm, Đào Thục, di tích Ngọc Hồi, di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Trình phê duyệt dự án địa đạo Nam Hồng, dự án khả thi di tích cổ Loa, di tích nhà tù Hỏa Lò, tiếp tục thi công hạng mục Đài tưởng niệm các chiến sĩ yêu nước và cách mạng. Các dự án tôn tạo di tích Thành Cổ, khu tượng Vua Lê, tượng Quang Trung, nhà Thái Học – Văn Miếu đã được gấp rút hoàn thành để khởi công xây dựng vào năm 1999. Tổng kinh phí đóng góp của nhân dân cho tu bổ nâng cấp các di tích tại địa phương là 8.123 triệu đồng. Lượng khách đến du lịch tham quan các di sản văn hóa Hà Nội trong năm 1998 cũng là một con số khích lệ, 276.760 khách tham quan di tích Văn Miếu, Ngọc Sơn, Cổ Loa, di tích nhà tù Hỏa Lò, 5D Hàm Long, 48 hàng Ngang, đền Bà Kiệu, Phú Thượng 22.580 học sinh của 60 trường phổ thông trung học và trung học cơ sở tới tham quan và dự lễ khuyến học, doanh thu đạt 1.985,77 triệu đồng. Ngoài ra còn có 30 nghìn lượt khách tới tham quan, học tập được các cơ sở miễn phí. Ngoài ra việc bảo tồn các giá trị văn hóa hữu thể, ngành văn hóa thông tin Hà Nội cũng đặc biệt chú ý công tác bảo tồn các giá trị văn hóa vô thể như việc hướng dẫn các lễ hội truyền thống, bảo tồn, phát huy những nét đẹp văn hóa truyền thống. Theo cán bộ lãnh đạo Sở văn hóa thông tin Hà Nội để lễ kỷ niệm 990 năm và 1000 năm. Thăng Long được long trọng hấp dẫn sự ra quân của ngành văn hóa vừa là khởi đầu. Vừa là kết thúc. Những gì cần làm đã bắt tay vào làm. Mọi việc không phải đã thuận buồm xuôi mái. Ngay việc bảo tồn, tôn tạo các di tích văn hóa, xứng đáng với giá trị vốn có của nó cũng đang có nhiều khó khăn. Tuy nhiên năm 1999 ngành đã thực sự coi công tác bảo tồn là công tác trọng tâm của ngành đã tạo được đà nhất định cho công tác này trong năm 1999 và những năm tiếp theo, tiếp tục phấn đấu nâng cấp các di sản văn hóa, nâng cấp môi trường du lịch văn hóa hấp dẫn hơn đối với các du khách đến Thủ đô.
Phạm Thành-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Nhà soạn nhạc sẽ dần viết nên các đoạn nhạc

Khái niệm công nghệ du lịch là một khái niệm đa dạng và vô cùng rộng lớn. Với mục đích thỏa mãn nhu cầu và trải nghiệm du lịch của khách, đòi hỏi việc tổ chức thực hiện từng phần việc riêng rẽ của nói phải có sự nỗ lực tham gia của rất nhiều người. Trong đó, công nghệ lữ hành lại là một nhân tố không thể thiếu và từng bộ phận nhỏ bé của nó đã và đang góp phần đáp ứng và thực hiện được mọi nhu cầu đa dạng của khách du lịch. Có thể ví như sự hình thành của một tour du lịch chẳng khác nào quá trình sáng tác và phổ biến của một ca khúc. Để đưa được một bài hát đến với khán giả đòi hỏi sự góp sức của rất nhiều người, tương tự vậy, một người không thể làm được tất cả mọi việc trong quá trình phổ biến rộng rãi một tour du lịch tới khách du lịch. Giai đoạn khởi đầu của một ca khúc là giai đoạn sáng tác. Nhà soạn nhạc sẽ dần viết nên các đoạn nhạc, kết nối chúng rồi tìm kiếm lời cho bản nhạc của mình. Tiếp theo là quá trình hòa âm, phối khí. Một dàn nhạc hay một ban nhạc sẽ dựa trên ý tưởng của nhạc sĩ để từ đó tìm tòi phong cách thể hiện các khúc. Sau đó, quá trình giới thiệu ca khúc ra trước công chúng khán giả được tiến hành. Để làm được điều đó, nhạc sĩ cần tìm cho mình một ca sĩ. Mọi việc hoàn tất, người ca sĩ bước lên sân khấu, trình diễn ca khúc trước đông đảo công chúng khán giả. Một tour du lịch cũng ra đời theo thể thức tương tự. Trước tiên là giai đoạn lập kế hoạch. Giai đoạn này tour du lịch sẽ hình thành dần trên từng trang bản thảo. Nhà điều hành tour dường như đang làm nhiệm vụ của một nhà soạn nhạc và viết lời. Tiếp đó, tour du lịch được triển khai và từng phần của tour được kết nối một cách nhịp nhàng như quá trình tìm kiếm nhạc cụ để thể hiện nhạc điệu và lời ca. Đó là một trong những công đoạn rất là quan trọng trong âm nhạc cũng như đối với du lịch thì giai đoạn này cũng quyết định rất nhiều đến thành hay bại. Những phần việc cụ thể đó là: Thuê phương tiện, đặt phòng khách sạn, thuê và phối hợp với một công ty lữ hành địa phương… Tiếp đến là quá trình khuyếch trương, quảng cáo tour đó đến các khách hàng tiềm năng để họ biết đến sự tồn tại của tour mới này. Nhà điều hành tour và các hãng du lịch phải phối hợp cùng nhau trong việc quảng cáo sáng tác mới tour du lịch mới của mình. Sau cùng là giai đoạn thực hiện tour du lịch đã sẵn sàng, cần có một ca sĩ thể hiện nó. Sân khấu chính là điểm du lịch, bài ca chính là tour du lịch và người ca sĩ chính là hướng dẫn viên du lịch. Mỗi giai đoạn đều rất quan trọng. Bởi thế trong giai đoạn cuối của một tour, người hướng dẫn có vai trò cốt yếu đến sự thành công hay thất bại của tour đó vì họ chính là người sẽ để lại những ấn tượng có ảnh hưởng rất lớn đến khách du lịch những khán giả của riêng mình.
Nguyệt Ánh-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.