Bóng núi và núi – Phần 1

Bốn năm nữa, chắc tôi còn được thắp hương khấn gọi Trịnh Tố Tâm về. Cứ cho là đến ngày đó Tâm vẫn chỉ là Thứ trưởng Bộ Thương binh Xã hội, Tâm sẽ mời tôi cùng vào dự lễ mở đường hầm Hải Vân. Ba mươi năm trước, trên Trường Sơn ở đỉnh cao một nghìn bốn trăm bảy mươi hai mét, tôi được Quân khu phân công viết sách bản thành tích đánh tàu, đánh xe của Trịnh Tố Tâm ở quãng đèo Hải Vân mái bắc. và dồn góp từng trận, từng chiến công thành tượng đài để Trịnh Tố Tâm ở quãng đèo Hải Vân mái bắc. Và dồn góp từng trận, từng chiến công thành tượng đài để Trịnh Tố Tâm bước lên với tư thế dũng sĩ rồi anh hùng quân đội.
Tôi còn nhớ một đoạn do mình viết giúp Tâm… “Tàu hỏa của Mỹ ngụy từ Đà Nẵng sắp ra. Mắt tôi (Trịnh Tố Tâm) chú vào cái lỗ đường hầm đen xì. Bỗng chiếc HU1A rà thấp một vòng đứng khựng trước mặt. Phải đuổi bọn này đi kẻo tàu ra, đánh sao kịp. Máy thằng Mỹ cứ nhởn nhơ, trâng tráo trên đoạn dây nối ra quả quả mìn đã gài. Phải liều chạy ra thôi. Tôi nghĩ nhanh. Tôi đái nhanh ra đám tro cây lá đốt trụi. Xoa nhanh thứ bột tro ấy lên mặt, lên ngực. Tôi chạy xuống đồi…
– Ê! Vi xi – làm gì ở đây?
– Oe, oe, oe… Tôi hoa múa chân tay.”
Tâm đóng vai câm. Nhớ là trước khi đi bộ đánh Mỹ, tâm đã trúng tuyển vào đoàn kịch Tổng cục chính trịn. Nếu ông thân sinh ngày ấy không thành kiến, không coi nghề ca hát, kịch tuồng là xướng ca vô loại thì Trịnh Tố Tâm đã là diễn viên, là nghệ sĩ.
Những tên lính Mỹ ngày ấy cũng lố ngố ham chơi. Chúng bắt tâm lùa hết đàn bò lại để chụp ảnh một Vi xi câm rồi lên máy bay cút thẳng. Tâm nối vội dây mìn. Và …
Tôi cầm lá thư của ông Vũ Phạm Chánh gửi ông Nguyễn Ngọc Trân. Hai ông ở hai ngành của giao thông Việt Nam ráp mối thông tin để tôi có chuyến vào Hải Vân. Trước hay sau lễ khởi công 20 tháng 8 năm 2000 là tùy tôi thu xếp.
Tôi ghé vào cơ quan của ông Trần. Cơ quan quản lý dự án PM 485 này luôn bận rộn. và Giám đốc Nguyễn Ngọc Trân là sự bận rộn của tất cả các đầu mối có liên quan. Ông Trân ra Hà Nội. Cơ quan của ông mời tôi nán lại Vinh mấy bữa để chờ ông về. Tôi ôn lại những gì đã được nghe ở đây về dự án đường hầm qua Hải Vân. Tôi còn nhớ được cả mái tóc bạc sớm của Nguyễn Ngọc Trân xoa lên những bản vẻ như mây trên đèo. Điều nhớ được và liên tưởng lãng mạn như thế là đủ. Còn thừa chút đỉnh là khác . Nguyễn Ngọc Trân vốn là con đẻ của đất Hà Tĩnh. Ông mơ ước sau Hải Vân sẽ khoét luôn hầm qua Đèo Ngang.
Tôi mở tiếp cuộc độc hành từ ga Vinh. Ngoài cửa sổ toa tàu, thấy trên đường quốc lộ , các loại máy xúc máy chuyên dụng làm đường nối đuôi nhau đi về hướng Nam. Qua ga Đồng Hới tôi mới rõ Máy móc ấy, các đạo quân giao thông ấy rẽ lên Trường Sơn – Lễ khởi công Đường Hỗ Chí Minh đã diễn ra ở bến Xuân Sơn rồi. Tôi đi tiếp. Muốn dừng lại ở Huế rồi từ đó mượn đường quốc lộ mà tiến vào chân núi ở Lăng Cô. Lại muốn từ Đà Nẵng ra Liên Chiểu rồi leo tiếp lên đỉnh đèo. Tôi tham lam trong việc chọn đường. Bởi chọn hướng nào lên cũng đẹp “Thôi mỗi người chỉ được hưởng một phần lộc trời, lộc đất ban cho Cái Duyên vào trang viết còn ở mình. Cứ dần dà rồi gặp hết. Miễn đừng nhãng nhạt. Đừng lạnh tắt sức đam mê.
Tôi nhớ người của ngành Du lịch Đà Nẵng dẫn ra chân đèo. Thời kinh tế năng động, ngành nào cũng muốn tiếp thị, quảng cáo vào tôi. Du lịch Đà Nẵng “khoe” công trình khai phá mới ở Bà Nà – Núi Chúa. Làm sống lại khu nghỉ mát của Tây có từ đầu thế kỷ 20. Thú vị nhất là tôi được mời lên chop nhọn của núi chúa bằng cáp treo. Vậy là trong khi tôi đang tưởng tượng ra đường hầm xuyên núi rộng 12m, cao 7m50 như đường xuyên địa phủ lại được bồng bềnh thăng thiên ằng cáp treo lên Núi Chúa – Bà Nà.
Tôi tìm được một chỗ trọ trên đỉnh đèo. “Các nhà khảo sát còn ở được cả tuần. Mình ở vài đêm. Có sao! Họ khúc xa địa chấn. Mình thăm dò tâm thức con người. Phía nào chẳng công phu”. Tôi hẹn với Du lịch Đà Nẵng sau hai ngày hai lên đón. Họ gửi lại nhà trọ cho tôi một thùng lương thực đủ sống ba ngày. Tôi cứ nghĩ là mình được bằng ấy là tuyệt đối rồi. Lại nghĩ khi vua lê Thánh Tông, Chúa Nguyễn Hoàng, nhà chí sĩ Nguyễn Xuân Ôn qua đèo , dừng lại trước Hải vân quan có rềnh rang, nhiều khê như thời nay không? Tôi liếc qua thùng lương thực nuôi tôi trên đèo. Có đủ từ cái tăm tre đến hộp thuốc xịt muỗi.
Phạm Ngọc Cảnh – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Giới thiệu đặc sản

Chim mía Xuân Phổ
Cá bống sông Trà
Kẹo gương Thu Xà
Mạch nha Mộ Đức
Chỉ 4 câu vẻn vẹn 16 chữ người bình dân đã giới thiệu cả 4 đặc sản nổi tiếng của Quãng Ngãi, gắn bó với những địa danh tiêu biểu nhất. Về đặc sản cá bống sông Trà, có thể kể đến những câu ca dao rất hay khác, như:
Phải đâu chẳng nói mà xiêu
Tại con cá bống tại niêu nước chè
Nước chè lá Minh Long sắc đặc phải nói là rất ngon sau mỗi bữa cơm có món cá bóng sông Trà kho tiêu. Người bình dân đã chọn chuyện tình duyên đôi lứa để làm đòn bẫy bật lên sức hấp dẫn của đặc sản. Cũng với kiểu như vậy, với don, một đặc sản bình dân lại có câu:
Con gái còn son
Không bằng tô don Vạn Tượng
Có người nói rằng so sánh như vậy là quá đáng. Sao có thể con gái còn son không bằng tô don vạn tượng? Sao lại so sánh người với một thứ thức ăn, dù là thức ă đặc sản? Ngẫm lại thì đây không phải là sự so sánh. Nó là lối nói nhấn (thậm xưng) rất thường thấy ở ca dao xưa. Cũng như câu phải đâu chàng nói mà xiêu … chỉ cốt để tạo ra cho lời nói có ấn tượng mạnh, có màu sắc không ai suy diễn ra rằng cô con gái xem chuyện tính duyên của mình không bằng một món ăn. Với lối nói thậm xưng người bình dân giới thiệu đặc sản của mình với một niềm tự hào không cần giấu diếm song vẫn giữ được sự tế nhị gấp nhiều lần kiểu quảng cáo “húc, húc, đầy sức mạnh!’ Bởi ca dao giới thiệu đặc sản với một tấm lòng trong sáng còn dạng tiếp thị thế kia thì lại chưa thấy dấu ấn văn hóa, dù nó ra đời trong một thời hiện đại văn minh.
Một chút trào lộng nhưng vẫn luôn trong sáng người bình dân còn có câu khá vui:
Nghèo thì nghèo, nợ thì nợ
Cũng kiếm cho được con vợ bán don
Một chút chua chát, người dân kể chuyện tình lặt lẹo trắc trở do không môn đăng hộ đối mà vô hình chung lại giới thiệu được cái giá trị của đặc sản mắm nhum:
Sớm mai anh ngủ dậy
Anh súc miệng
Anh rửa mặt
Anh xách cái rựa quéo
Anh lên hòn núi Quẹo
Anh đốn cây củi công queo
Anh than với em cha mẹ anh nghèo
Đôi đũa tre yếu ớt không dám quèo con mắm nhum
Quãng Ngãi là xứ mía đường, nên dễ hiểu là ca dao cũng đề cập nhiều đến đường, mía đặc sản:
– Ở đây mía ngọt đường nhiều
Tìm trai xứ Quảng mà yêu cho rồi
– Nước mía ngọt cũng thắng thành đường
Anh thương em thì anh biết chớ thói thường ai hay
Cũng cần biết xưa kia có nơi đặt ra lệ phạt người bẻ trộm mía để ăn, nên mới có cái hoạt cảnh khôi hài này:
Mía ngọt tận đọt
Heo béo tận lông
Cổ thời mang gong
Tay cầm lóng mía
Vừa đi vừa hít
Cái đít sưng vù
Chuyện mía lan sang chuyện đường với nhiều loại đường đặc sản như đường cát: “Thiếp gửi cho chàng, một cục đường rim , một tìm đường cát”, đường phổi: “Bậu về nhớ ghé Ba La, mua cân đường phổi cho ta với mình”, đường phèn: “Thơm ngon như món mạch nha, ngọt qua đường phổi thơm qua đường phèn…”. Cũng có thể kể, ngoài hải đảo Lý Sơn còn có bánh ít lá gai nổi tiếng (dù chưa phải là một đặc sản nổi bật ở đây) với câu ca dao có mô – tuýt quen thuộc” “Muốn ăn bánh ít lá gai lấy chồng hải đảo sợ dài đường ghe”. Trên nguồn thì có đặc sản quế Quãng nổi tiếng ở Trà Bồng, song lại gắn với ý niệm xa xôi, cách trở: Lựu tìm đào, đào chẳng tìm lê, lên non tìm quế, quế về rừng xanh”. Quế Trà Bông cũng vang danh không kém chị mía đường:
Ai về Quãng Ngãi
Cho tui gửi ít tiền
Mua dùm miếng quế lâu niên
Đem về trị bệnh khỏi phiền bà con
Giới thiệu đặc sản, ca dao luôn quyện với tình người, quyện với những sinh hoạt rất đời thường, rất tự nhiên, thuần phác, dân dã, cho nên có thể ca dao về đặc sản cũng là một… đặc sản có khí vị riêng. Trong thử thách khắc nghiệt của kinh tế thị trường, có lẽ niềm hy vọng chung của mọi người là được thưởng thức cả ca dao lẫn những đặc sản, những khí vị rất riêng của từng vùng đất. Vâng sẽ rất chán nếu đi đến vùng đất nào cũng chỉ thấy những sản phẩm toàn cầu như Pepsi Cola, Coca Cola…
Lò đào tạo diễn viên bốn chân
Đó là nơi không xa Paris, do nhà huấn luyện thú Đieuone làm chủ. Hơn ba năm nay cơ sở đào tạo chó và mèo cho các phim trường trong và ngoài nước hơn 100 “diễn viên bốn chân” theo yêu cầu của nhiều bộ phim.
Điêuone cho biết: Tìm giống chó hoặc mèo để huấn luyện thành diễn viên là vấn đề khó, nhưng khi nó đã thành tài thì người huấn luyện cảm thấy thật hạnh phúc vì nó cũng có những tính cách giống như người làm đôi khi ta phải giật mình suy nghĩ.
Cao Chư – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Đặc điểm tâm lý khách du lịch một số nước

Khách du lịch Mỹ: Khách du lịch Mỹ mang tính thực dụng cao, họ thích ăn to nói lớn ở chỗ công chúng. Họ đòi hỏi hướng dẫn viên của đoàn nói với họ cũng bằng giọng họ nói to, rõ như họ. Khách du lịch Mỹ không thích những người phục vụ bàn họ nói nhỏ, thì thầm với người bên cạnh. Nếu hướng dẫn viên nói nhỏ kiểu đó họ cho là có thể nói xấu họ. Đối với khách Mỹ, để diễn đạt ý kiến gì, hướng dẫn viên cần phải nói thẳng lập trường của mình, không quanh co, bóng gió, chơi chữ. Khách du lịch Mỹ thể hiện sự phản đối hay đồng tình công khai nhất những thông tin mà hướng dẫn viên du lịch nêu ra. Khách du lịch Mỹ sống cởi mở, đôi khi gây ồn ào trong khách sạn hoặc nơi công cộng. Khách du lịch Mỹ thường giàu có họ thích ở khách sạn loại sang và tiêu pha rất phóng túng.
Khách du lịch Nga: Đây là những khách du lịch dễ tính tính tình đôn hậu, trung thực, tình cảm dễ bộc lộ. Khách du lịch Nga ít đòi hỏi, họ thường ở những khách sạn loại thường. Tính tình người Nga rất cởi mở, dễ gần, cho nên ngay từ buổi đầu gặp gỡ, sau khi bố trí cho các đoàn ăn nghỉ, hướng dẫn viên thường dduojc trưởng đoàn mời đến phòng riêng, trước hết bằng ly rượu mạnh “Votca” sau đó mới thảo luận về chương trình đôi bên.
Tính tập thể của khách du lịch Nga khá cao. Trước bữa ăn hay trước cuộc tham quan, họ tập trung tương đối đúng giờ. Người Nga không tiêu pha nhiều, quan tâm nhiều đến đồ trang sức. Họ thích hàng hóa đặc trưng của nước họ đến du lịch.
Khách du lịch Trung Quốc: Người Trung Quốc, Đài Loan vào Việt Nam du lịch hiện nay với mục đích chính là nghiên cứu khảo sát thị trường, tìm cho bạn hàng buôn bán với đối tác đầu tư. Tham quan phong cảnh, di tích văn hoá, lịch sử là mục đích thứ yếu. họ thường lựa chọn chương trình Businees tour khoảng từ 7 đến 15 ngày đi cả ba miền Bắc – Trung – Nam thông qua các cuộc tiếp xúc với các cơ quan quản lý chức năng như: Uỷ ban Nhà nước về Hợp tác đầu tư, Bộ thương mại, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các thương nhân, các công ty, xí nghiệp để tìm hiểu chính sách xuất nhập khẩu và Luật đầu tư của Việt Nam.
Họ thường không cần ở các khách sạn cao cấp, ăn uống cầu kỳ ăn khoẻ và hay trò chuyện trong bữa ăn. Ngoài ra, khách du lịch Trung Quốc còn hay thay đổi một số chi tiết trong chương trình đã lập ra.
Khách du lịch Nhật Bản: Hiện nay, hàng năm, người Nhật Bản du lịch ra nuớc ngoài tới hơn 10 triệu người, nhưng vào Việt Nam chưa nhiều lắm. Khách du lịch Nhật rất coi trọng giờ giấc, quí từng phút, vì hàng năm chỉ được nghỉ một số ngày nhất định còn thời gian khác họ phải lao động thực sự. Khách du lịch Nhật thường là các khách du lịch giàu có, ở khách sạn loại sang và đầy đủ tiện nghi. Họ không thích ở tầng thấp trong khách sạn mà họ ở tầng cao vì cho rằng ở tầng thấp dễ bị tống tiền.
Để đề phòng việc này, khi ra nước ngaòi du lịch đôi khi người Nhật ghi tên và quốc tích nước khác trên vali để đánh lạc hướng kẻ xấu. Tới nước nào đó, họ tránh đi chơi khuya và đi vào những ngõ hẻm của thành phố. Phụ nữ Nhật thường rất cẩn thận khi mua bán hàng hoá và biết mặc cả.
Khách du lịch Nhật thường thích những chương trình câu cá, săn bắn hay đi tàu hoả ngắm cảnh. Ngoài ra, họ cũng rất hứng thú với những chương trình du lịch bằng đường biển. Khách du lịch Nhật là những người rất kín đáo, tế nhị, thích cử chỉ nhẹ nhàng, không ầm ĩ. Họ cũng ít khi kể chuyện hài hước, tiếu lâm về đề tài gia đình. Lễ giáo gia đình, tính cách dân tộc của khách Nhật Bản rất nghiêm túc.
Khách du lịch Pháp: Người Pháp vốn có sở thích đi du lịch nước ngoài và có ngành công nghiệp du lịch rất phát triển. Những năm gần đây, người Pháp đi du lịch vào Việt Nam ngày càng đông. Họ đi thành từng đoàn, có khi đến 300 – 400 người, bằng đủ loại phương tiện, như: máy bay, chuyên cơ, tàu thủy, ô tô. Trong quá trình tham quan du lịch họ muốn gần gũi, tiếp xúc với người Việt Nam, tham quan các cơ sở sản xuất thủ công, mỹ nghệ, trường học và các cơ sở y tế. Họ thích quay phim, chụp ảnh các cảnh sinh hoạt hàng ngày ở nông thôn. Du khách Pháp ưa chuộng các loại hình nghệ thuật truyền thống của Việt Nam như: chèo , tuồng, múa rối nước, nhạc dân tộc, Người Pháp thích trao đổi quan điểm hay bình luận về mọi phương diện của cuộc sống, coi trong tình bạn, cuộc sống gia đình. Ở nơi công cộng họ thường kín đáo. Những người lớn tuổi luôn hào hoa phong nhã, thể hiện qua cử chỉ, lời nói, trang phục. Trong các khách sạn, buồng ngủ họ đòi hỏi rất nghiêm ngặt về vệ sinh ga gối và buồng vệ sinh cũng như tất cả trang thiết bị trong phòng. Về ăn uống, họ thích thưởng thức các món dân tộc nơi họ đến tham quan, du lịch.
Phan Thị Kim Thoa – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 8(173)2001

Du lịch Lâm Đồng tăng tốc? – Phần 2

Một vài năm trở lại đây, đặc biệt khi Đà Lạt được công nhận đô thị loại II, cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông không ngừng nâng cấp, mở rộng, đã tác động tích cực cho Du lịch mở hướng đi lên. Mặt khác, qua những hình thức ngày hội văn hóa các dân tộc Tây Nguyên, các hội nghị – hội thảo, nghiên cứu khoa học tổ chức, đăng cai tại Lâm Đồng – Đà Lạt, không riêng tạo ra doanh thu mà đã kích thích mạnh mẽ kinh tế Du lịch nâng bước đi lên… Thế nhưng có còn hay không tình trạng “chặt chém” giá cả du khách ở những mùa du lịch cao điểm? Trách nhiệm này, ngành Thuế, Quản lý thị trường đã vào cuộc hay chưa? Tình trạng chèo kéo, giành giật khách ở khu vực kinh tế du lịch tư nhân, ngành Công an bao giờ mới giải tỏa dứt điểm? Hoặc việc cấp phép kinh doanh khách trọ, ngành Thương mại Kế hoạch – Đầu tư có cân nhắc trước với cơ quan quản lý Du lịch Nhà nước về con người và tài sản đưa vào làm kinh doanh liệu có đủ tiêu chuẩn du lịch? Đó là chưa kể đến những hoạt động mang bản sắc văn hóa Tây Nguyên chưa được đầu tư khơi dậy đúng mức, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu ngày càng phong phú, đi vào chiều sâu của khách…
Riêng ngành Du lịch Lâm Đồng – Đà Lạt, hơn lúc nào hết phải tăng tốc độ đầu tư và mở rộng sản phẩm du lịch phong phú, hấp dẫn hơn, theo hướng du lịch sinh thái. Nhưng nếu chỉ đòi hỏi như thế cũng mới chỉ là một vế của vấn đề. Bài học tiếp tục thua lỗ ở liên doanh RDI nhiều năm qua là một minh chứng điển hình nhất. Ở đây việc chơi golf đối với khách nội địa thường hy hữu, bởi giới tỷ phú trong nước chưa nhiều. Doanh thu chỉ có thể trông chờ ở khách ngoại quốc, nhưng nói riêng các nước trong khu vực muốn sang Đà Lạt chơi golf phải “quá cảnh” mất cả ngày đường từ các sân bay quốc tế trong nước. Nếu sân bay Liên Khương mở tuyến đường bay quốc tế thì chỉ cần 2 giờ đồng hồ, du khách các nước trong khu vực sẽ đến được dịch vụ golf, nhưng tiếc thay, mơ ước đã nhiều năm, đến nay chưa trở thành hiện thực.
Năm 2001, theo đệ trình của Tổng cục Du lịch, Chính phủ đã có ý kiến chính thức đồng ý phát triển 4 khu du lịch trong nước, đó có khu du lịch ĐangKia – Suối Vàng. Tổng cục Du lịch chịu trách nhiệm cùng với Bộ kế hoạch – Đầu tư, Bộ tài chính và Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng xem xét, làm việc với Singapore để thúc đẩy đầu tư xây dựng dự án. Chắc chắn ĐangKia – Suối vàng sẽ thoát hẳn khỏi bế tắc do hậu quả của khủng hoảng tài chính trong khu vực để lại. Cơ hội tăng tốc Du lịch Lâm Đồng – Đà Lạt đã chớm bước trở lại. Để chuẩn bị mọi điều kiện thật tốt đón nhận cơ hội này, thiết nghĩ Du lịch Lâm Đồng – Đà Lạt cần tập trung xây dựng, nâng cao ý thức toàn xã hội một cách đầy đủ hơn về Du lịch và phát triển thế mạnh du lịch sinh thái đồng thời với việc đầu tư, đổi mới sản phẩm du lịch đặc thù. Chỉ có tiến hành đồng bộ như thế mới đưa ngành kinh tế động lực này “cất cánh” lên tầm cao mới.
Văn Việt – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT- DL – Hà Nội – Năm 14(179)2000

Du lịch Lâm Đồng tăng tốc? – Phần 1

Nói đến Lâm Đồng – Đà Lạt, từ lâu người trong nước và quốc tế vẫn thường liên tưởng đến một vùng đất “hái ra tiền”. Bởi ở đó có thiên nhiên, khí hậu ôn hòa, con người thanh lịch và mến khách. Cũng bởi thế mạnh vốn có nên Lâm Đồng xem kinh tế Du lịch là ngành kinh tế động lực, riêng thành phố Đà Lạt luôn đặt lên vị trí là kinh tế mũi nhọn. Dù vậy hơn một thập kỷ qua, Lâm Đồng – Đà Lạt luôn đối mặt triền miên trước những thách thức do cơ chế cũ để lại: Rừng bị phá, môi trường bị xâm hại nghiêm trọng, khiến cho mô hình du lịch sinh thái phải chịu sự gián đoạn, manh mún. Trong khi đó, sự phát triển mất cân đối ngay trong bản thân ngành Du lịch, dẫn đến nhiều than phiền từ phía du khách. Nếu như những năm 94, 95, 96 lượng khách du lịch đến Lâm Đồng – Đà Lạt tăng nhanh thì vài năm kế tiếp, lại giảm xuống gần như đột biến. Ý kiến của nhiều du khách là đến Lâm Đồng – Đà Lạt chỉ để “đổi gió” rồi ăn ngủ, còn sinh hoạt, giải trí thì nhàm chán và đơn điệu, đã làm nhức nhối những nhà du lịch tâm huyết của địa phương. Rất mừng “Điểm hẹn du lịch năm 2000” đã khởi đầu cho những ấn tượng mới, tốt đẹp hơn trong lòng du khách về một thiên đường du lịch đầy triển vọng trong tương lai.
Ngành du lịch của tỉnh đã xúc tiến mạnh mẽ việc quảng bá về tiềm năng, cũng như những nét độc đáo về du lịch của địa phương với nhiều hình thức đa dạng. Những hội chợ lớn giới thiệu về Du lịch Lâm Đồng từ Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đến các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam Bộ, hoặc một liên hoan văn hóa ẩm thực tại Đà Lạt đã thu hút sự chú ý đặc biệt của “quan khách” nội địa và quốc tế, đem lại bước thành công trong hoạt động mới mẻ này. Du khách được nghe, hình dung đầy đủ về một diện mạo mới của Du lịch Lâm Đồng – Đà Lạt. Chẳng những thế, bước chân lên Lâm Đồng, du lịch khách đã dần dần xóa đi mọi buồn chán cố hữu khi dạo chơi, thưởng ngoạn trên 20 thắng cảnh đưa vào hoạt động. Du khách muốn leo núi có đỉnh LangBian với đầy đủ những dịch vụ đáp ứng nhu cầu. Muốn du lịch dã ngoại có khu Tuyền Lâm (Đà Lạt), thác ĐamBri (Bảo Lộc). Còn nữa, những tuyến du lịch mới như thác Voi (Lâm Hà), thác BobLa (Di Linh) có đường ô tô đi đến nơi, đang trở thành những điểm hẹn với nhiều khám phá thú vị. Hầu hết những cánh rừng nơi thắng cảnh đều xanh trở lại. Nơi nào cũng đều có các hình thức phục vụ đa dạng, thuận lợi, nhờ vậy đã thu hút hơn 3,3 triệu lượt khách tham quan vào năm 2000. Đáng kể nhất, Công ty DVDLVC Lâm Đồng đã tạo hấp dẫn khách du lịch khi vừa “trình làng” với 60 xe taxi, xe vận chuyển khách đường dài chất lượng cao; 68 thuyền gỗ, xuồng máy cải tiến, hoạt động mới. Con số 45 ngàn khách lữ hành, nội địa sử dụng dịch vụ là những tín hiệu tốt lành cho hoạt động “bổ trợ” này… Đến nay, Lâm Đồng có tất cả 385 khách sạn, trong đó 19 khách sạn được phong sao. Khách sạn 5 sao Palace được đánh giá là khách sạn đẹp nhất Đông Nam Á.
Từ những nỗ lực của “Điểm hẹn năm 2000”, Du lịch Lâm Đồng – Đà Lạt đã tiếp đón 725 ngàn lượt khách, tăng 100 ngàn lượt khách so với năm 1999, trong đó khách quốc tế là 71 ngàn, khách nội địa là 654 ngàn; tổng doanh thu đạt gần 200 tỷ, vượt chỉ tiêu được giao. Nhìn lại những kết quả khả quan này, mừng nhiều, nhưng sẽ còn quá sớm để vội thỏa mãn chính mình; khi mà áp lực “tăng tốc” ở thiên niên kỷ mới đã không cho phép Du lịch Lâm Đồng – Đà Lạt laonh quanh khai thác “cái đang có” để rồi rơi vào thế tụt hậu. Vậy Lâm Đồng – Đà Lạt phải làm gì để tháo gỡ mình tránh xa những nguy cơ ấy?
Văn Việt – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT- DL – Hà Nội – Năm 14(179)2000

Huế tổ chức Festival lần 2

Bộ Văn hóa – Thông tin và Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên – Huế, vừa họp bàn kế hoạch chuẩn bị tổ chức Festival Huế lần 2. Được biết, thời gian diễn ra lễ hội văn hóa có quy mô lớn nhất cả nước sẽ là tháng 5/2002. Dự tính, Festival Huế sẽ được tổ chức hoành tráng hơn lần đầu vào tháng 4 năm 2000. Tỉnh Thừa Thiên – Huế chịu trách nhiệm chủ trì công tác tổ chức. Bộ Văn hóa – Thông tin thực hiện các hoạt động văn hóa, văn nghệ, đạo diễn, chỉ đạo nghệ thuật các chương trình và điều phối lực lượng nghệ thuật trực thuộc Bộ tham gia lễ hội … Festival Huế 2002 sẽ có đại diện một số nước trong khu vực ASEAN tham dự. Các cơ quan chỉ đạo sẽ sớm tiến hành các thủ tục và công việc chuẩn bị từ sớm.
Quảng Ngãi: khu chứng tích Sơn Mỹ được nâng cấp thành bảo tang quốc gia
Nhân kỷ niệm 33 năm sự kiện xảy ra vụ thảm sát 504 thường dân ở Sơn Mỹ thành Bảo tàng quốc gia. Theo kế hoạch nâng cấp, toàn bộ khuôn viên của khu chứng tích sẽ được mở rộng lên 6.000 m²; phục dựng toàn bộ các di tích và hiện trường xảy ra vụ thảm sát, sưu tầm và bổ sung các hiện vật liên quan đến vụ thảm sát. Dự kiến, công trình sẽ được triển khai thực hiện trong năm nay, với tổng kinh phí khoảng 15 tỷ đồng.
Khánh Hòa phê duyệt dự án khu thương mại – Du lịch Hải Đảo
Vừa qua, Ủy ban Nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã phê duyệt dự án xây dựng công viên Hải Đảo với nhiều hạng mục công trình mới. Dự án sẽ thay đổi cơ bản hiện trạng, xây dựng mới khu thương mại – dịch vụ, khu có các trò chơi hiện đại (gồm tàu lượng siêu tốc, đường đua ô tô công thức 1, thuyền vượt thác, thảm bay, tàu điện trên không …), khu công viên nước, khu thể thao, cáp treo từ công viên ddeend tháp bà Ponagar … Tổng mức vốn đầu tư là 150 tỷ đồng. Dự kiến, công trình sẽ hoàn thành và đưa vào hoạt động trong năm 2002.
Nam Định khai mạc lễ hội Phủ Giày
Lễ hội Phủ Giày kéo dài 1 tuần đã được khai mạc vào sáng ngày 27/3/2001 (tức 3/3 năm Tân Tỵ), tại khu di tích Phủ Giày, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản với các hoạt động: lễ dâng hương, lễ rước kiệu, rước đồng, thi hát chầu văn, thi đấu cờ đèn dưới nước, thả đèn trời, kéo chữ và biểu diễn nghệ thuật.
Hà Nội khảo sát tình trạng ép mua ép giá khách du lịch
Theo dự kiến vào đầu tháng 5/2001, Sở Công an và Sở Lao động – Thương binh – Xã hội Hà Nội sẽ tiến hành khảo sát tình hình ép mua, ép giá (EMEG) khách du lịch tại 11 điểm di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, khách sạn lớn và địa bàn giáp ranh. Đợt khảo sát nhằm xác định các tụ điểm và mức độ phức tạp của từng tụ điểm; đánh giá số lượng, độ tuổi đối tượng, mức độ phức tạp của tệ ép mua ép giá để đề xuất biện pháp giải quyết với Ủy ban Nhân dân thành phố. Đối tượng được khảo sát bao gồm những người bán sách báo, đồ lưu niệm, ăn xin, đánh giầy … có hành vi vi phạm.
Được được biết hiện nay tình trạng người bán hàng rong đeo bám, ép mua ép giá khách du lịch tại Hà Nội diễn ra khá phức tạp song một số biện pháp giả quyết lại chưa phù hợp.
Tiến Hà – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Năm 13 (178) 2001.

Nghệ An đón mùa du lịch năm 2000

Tháng 5 cả nước rộn rã diễn ra những hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao cùng các công trình lớn hướng tới chào mừng lần thứ 110 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Ở quê hương Bác vào tháng 5 lịch sử, nhiều điểm du lịch nổi tiếng ngỡ quá tải. 35 đoàn tham gia Liên hoan tiếng hát từ Làng Sen toàn quốc, 7 đoàn hội diễn sân khấu chuyên nghiệp về đề tài Bác Hồ, giải bóng chuyền công nhân viên chức toàn quốc 14 đội và hàng ngàn lượt khách quốc tế đến quê hương Bác, Cửa Lò và các điểm du lịch khác.
Thành lập năm 1994, Du lịch được voi là mũi nhọn kinh tế non trẻ trong nền kinh tế của Nghệ An. Bằng nội lực và được các ngành liên quan hỗ trợ Du lịch Nghệ An sớm khẳng định vị thế trong nền kinh tế địa phương. Theo số liệu của Sở Du lịch Nghệ An: Năm 1999 có 8.500 đoàn khách tới tham quan quê Bác và nghỉ mát ở biển Cửa Lò, trong đó có 4.500 khách nước ngoài của hơn 30 quốc gia. Trong tháng 5/2000 diễn ra hội thảo “Phát triển kinhy tế du lịch 2001 và 2005” ba nước Việt Nam – Lào –Thái Lan hội thảo về việc nhập đường 8 thành bộ phận của trục xuyên Á. Vậy nên, dự tính năm 2000 số khách đến Nghệ An sẽ nhiều hơn năm trước.
Đón bắt vận hội mới: UBND tỉnh Nghệ An đã hỗ trợ cho nghành Du lịch 20 triệu đồng để tuyên truyền quảng cáo, Tổng cục Du lịch Việt Nam tài trợ 30 băng-rôn, 500 áp phích “Việt Nam – Điểm đến của thiên niên kỉ mới”. Hai pa-nô quảng cáo du lịch lớn, mỗi tấm trên 30 triệu đồng, Viện nghiên cứu phát triển Du lịch của Tổng cục Du lịch cử đoàn về khảo sát hỗ trợ kinh phí trùng tu sửa chữa khu di tích Kim Liên. Dẫu đang bận rộn, chúng tôi cũng được ông Chu Đình Việt – Phó giám đốc sở Du lịch dành cho một cuộc trao đổi ngắn. Ông cho biết: Được sự quan tâm giúp đỡ về vật chất lẫn tinh thần của Tổng cục Du lịch và lãnh đạo tỉnh, Sở Du lịch Nghệ An đã chỉ đạo các khách sạn củng cố trang thiết bị, mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ lễ tân, buồng, bàn, quầy bar cho 60 người. Tập huấn phòng chống HIV cho 40 người, ký hợp đồng lao động với số lao động thời vụ, đồng thời phối hợp với lực lượng Công An thành phố Vinh, Công An thị xã Cửa Lò bảo đảm an toàn cho khách. Hiện nay thị xã Cửa Lò có 58 khách sạn, nhà nghỉ gồm 1.450 phòng, 3.500 giường. So với năm 1999 thì năm 2000 thị xã Cửa Lò tăng thêm 200 phòng. Cùng với các khách sạn tại thành phố Vinh, toàn tỉnh Nghệ An có khoảng 100 khách sạn, nhà nghỉ. Đến nay mọi công việc chuẩn bị đón khách đã hoàn tất.
Chúng tôi đến Công ty Phương Đông, nơi đã đưa khách sạn Phương Đông vào phục vụ khách trong dịp Liên hoan tiếng hát làng Sen năm 2000. Giám đốc Trần Ngọc Khoan cởi mở: sáng 15/5/2000 khách sạn Phương Đông mở cửa đón các đoàn nghệ thuật quần chúng trong cả nước. Ngày 19/5/2000 UBND tỉnh, Sở Du lịch Nghệ An đã chính thức khánh thành đưa khách sạn Phương Đông (giai đoạn 1) vào khai thác sử dụng.
Khách sạn Phương Đông ca 11 tầng không kể tầng kỉ thuật, bao gồm 170 phòng khép kín, cầu thang máy, 3 cầu thang vận chuyển hành khách và hai cầu phục vụ dịch vụ nội bộ. Với hệ thống trang thiết bị mới lạ, hiện đại kết hợp vs truyền thống dân tộc, đây là một bước tiến quan trọng của Du lịch Nghệ An trong việc phục vụ khách du lịch tuyến Lào và Đông Bắc Thái Lan. Thực tế vào những năm gần đây, mỗi năm có khoảng 10.000 khách Lào,Thái Lan sang Việt Nam. Nghệ An đã chủ trương lược bớt thủ tục xuất nhập cảnh để tạo thuận lợi cho số lượng khách hàng tăng thêm trong hè 2000. Sau khi đưa khách sạn vào khai thác giai đoạn 1 với 90 phòng nghỉ cùng các khâu dịch vụ khách, các tầng còn lại tiếp tục hoàn thiện theo hình thức cuốn chiếu để đúng với mục đích đặt ra.
Khách sạn Phương Đông ra đời là bước đột phá về phục vụ nơi ăn chốn nghỉ của Du lịch Nghệ An, nhằm tạo bước phát triển mới trong lĩnh vực du lịch trên quê hương Bác. Hiện nay theo đánh giá của Tổng cục Du lịch, nghành Du lịch Nghệ An là một trong những điểm du lịch giàu tiềm năng của cả nước. Với sự ưu đãi của thiên nhiên và địa danh vốn có của mình được các nghành quan tâm, du lịch Nghệ An đang nổ lực phấn đấu trở thành trung tâm du lịch ở khu vực các tỉnh miền Trung, tỏa ra cả nước và bè bạn.
Bích Hạnh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(135)2000.

Những người ăn Tết muộn

Vườn thú Hà Nội rộng 21 ha là một “địa chỉ đỏ” về vui chơi giải trí ở thủ đô Hà Nội. Theo ông Nguyễn Thế Chấn – Trưởng phòng Hướng dẫn viên Du lịch (HDVDL) của vườn thú cho biết: “Từ đầu năm đến nay, lượng khách đến Vườn thú tham quan rất đông, chủ yếu là học sinh, trẻ em Hà Nội và các tỉnh “Bình thường” một tháng là một vạn lượt người. Một năm vườn thú đón 1,5 đến 1,7 triệu du khách”.
Sở dĩ có nhiều khách đến tham quan vườn thú vì ngoài các loài động vật quý hiếm như gà lôi, lam trắng, cầy vằn, voi khỉ, hổ, báo, hươu sao… Khung cảnh của vườn mát mẻ thoáng đãng. Cỏ cây được cắt tỉa cùng với các loài hoa rực rỡ sắc màu. Ông Vũ Đức Ninh – Trưởng phòng Kế hoạch vườn thú cho biết “Vào dịp Tết , lượng khách đến tham quan vườn thú Hà Nội tăng gấp hai lần so với ngày thường”. Có ngày cao điểm như mùng 4 và 5 Tết lên tới 3 vạn người”. Để chuẩn bị đón Tết, năm nào Vườn thú cũng đề ra hoạch trước đó 2 tháng. Công việc được bắt đầu triển khai từ ngày 15/12. Các chuồng thú xuống cấp được sửa sang vét vôi vệ sinh sạch sẽ. Đường vào vườn cũng được lát gạch sáng bóng. Do tính chất đặc thù, công việc của mỗi bộ phận có một nhiệm vụ khác nhau. Bà Nguyễn Thị Hiệu người đã 18 năm gắn bó với đội chăm sóc hoa tâm sự “Không được nghỉ Tết, chúng tôi rất buồn song vì công việc hơn thế nghĩ mình đang đem đến niềm vui cho mọi người là chúng tôi cũng thấy vui trong lòng”.
Có thể nói mấy chục năm nay cán bộ và công nhân viên Vườn thú Hà Nội không hề được đón Tết trọn vẹn cùng gia đình. Để chuẩn bị cho Tết cổ truyền năm 2001, ngay từ bây giờ Vườn thú Hà Nội đã lên kế hoạch nâng cao chất lượng các điểm phục vụ. Có 30 điểm vui chơi giải trí nằm rải rác trong vườn. Các công trình kiến trúc như nhà cửa, chuồng trại và hạ tầng cơ sở bị hư hỏng đã được cán bộ phòng kỹ thuật duy trì bảo dưỡng. Sở giao thông công chính đã đầu tư kinh phí 80 triệu đồng từ nay đến Tết cho việc sửa sang chuồng thú và các công trình phục vụ Tết.
Bên cạnh đó việc tổ chức kinh doanh dịch vụ cũng được chuẩn bị chu đáo ở hai cổng chính ra vào.
Vườn thú có 100 loài với 600 cá thể, nên các nhân viên của đội chăn nuôi phải chuẩn bị tết cho thú trước rồi mới đến gia đình mình. Họ mua đầy đủ thức ăn lương thực, thực phẩm gạo, ngô, khoai, thịt … dự trữ sẵn trong 2 ngày 30 và mùng 1 tết. Ngoài ra, họ còn luân phiên nhau chăm sóc kiểm tra và bảo vệ thú đêm 30, mùng 1 và mùng 2 Tết. Ông Võ Huy Triệu Trưởng phòng kỹ thuật có 30 năm gắn bó với nghề nuôi động vật tâm sự: “Ngày Tết việc chăm sóc thú lại càng bận rộn hơn nuôi con mọn. Việc chăm sóc rất khó, toàn thú quý nên chúng tôi phải chú ý nuôi dưỡng tốt để có đàn chim thú khỏe đẹp đem ra trưng bày phục vụ nhân dân trong dịp tết cổ truyền dân tộc”.
Vào những ngày Tết, lượng khách đến Vườn thú rất đông, nên đội ngũ công nhân bảo vệ cũng được tăng cường: người soát vé , người bảo vệ cửa ra vào, người trông xe giữ xe cho khách, người giữ gìn an ninh khu vực… Ngoài thời gian làm việc ban ngày họ phải trực cả đêm mỗi đêm có tới 100 người. Đặc biệt, đêm 30 tết, họ phải căng ra để bảo vệ, ngăn chặn tệ bẻ cành hái lộc đầu xuân. “Bận rộn như vậy, Vườn thú tổ chức đón tết cho anh chị em vào lúc nào?” Thấy tôi hỏi, ông Vũ Đức Ninh tâm sự: “Ngày 25/ 12 tết, lãnh đạo Vườn thú có tổ chức họp mặt cán bộ công nhân viên chúc Tết trước. Đêm 30 Tết vào lúc giao thừa, các đồng chí lãnh đạo, bộ phận bảo vệ và những người trực đêm liên hoan giao thừa. Ngày 5 Tết có đông đủ anh chị em đi làm, chúng tôi mới tiến hành chúc mừng năm mới theo tục lệ cổ truyền.
Cảnh ăn Tết muộn của những cán bộ, nhân viên Vườn thú Hà Nội bất giác khiến chúng tôi liên tưởng tới cái Tết muộn của vua Quang Trung và binh sĩ ra giải phóng kinh thành Thăng Long năm xưa. Chỉ khác, những cán bộ, nhân viên Vườn thú năm nào cũng phải ăn tết muộn.
Đỗ Bình Minh – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Làm gì để ngăn chặn tình trạng tùy tiện giảm giá phòng khách sạn ?

-Ông Richard Kaldor, Giám đốc Acoor Việt Nam: “Biện pháp cơ bản nhất là cân đối cung – cầu”
“Tôi tin rằng quyết định ban hành cơ chế quản lý giá nào đi chăng nữa, về trước mắt cũng như lâu dài sẽ phản tác dụng cho việc phát triển du lịch ở Việt Nam. Những cố gắng nhằm thống nhất đằng sau một cơ chế như vậy có lẽ tốt hơn là dồn vào việc quảng bá ngành du lịch của chúng ta trên trường quốc tế.
Nếu định đề ra một giá sàn tối thiểu, khi đó sức cung và cầu sẽ vận hành theo cách chống lại trước hết là các nhà đầu tư nước ngoài và các chủ đầu tư trong nước – những người đã gắn bó lâu dài với đất nước, với ngành khách sạn bằng việc xây dựng các khách sạn liên doanh ở đây. Mỗi chủ đầu tư, mỗi giám đốc khách sạn cần có cách kiểm soát vị trí của họ trên thị trường để có thể tự đề ra quyết định về việc làm sao bán được phòng và bán với giá nào trong một thị trường rất mềm như hiện nay. Việc định giá đó để cho những người điều hành khách sạn quyết định và tất nhiên nó được trợ giúp bởi biểu thức đơn giản của thị trường – đó là cung và cầu”.
-Ông Nguyễn Văn Đính – Khoa Du lịch, trường Đại học Kinh tế Quốc dân: “Nhà nước không nên quy định giá phòng khách sạn”
Chúng tôi cho rằng: Nhà nước (Tổng cục Du lịch, Sở Du lịch, Sở Thương mại – Du lịch) không nên và cũng không thể quy định giá dịch vụ lưu trú cho các khách sạn….Nhà nước chỉ có thể quy định giá hoặc hướng dẫn giá sàn, giá trần trong các trường hợp sau: sản phẩm “đặc biệt” hay mang tính “Quốc kế dân sinh”, sản phẩm Nhà nước độc quyền sản xuất, phân phối; sản phẩm do doanh nghiệp Nhà nước sản xuất ra. Mà sản phẩm của khách sạn không phải là “Quốc kế dân sinh”, cũng không phải Nhà nước độc quyền và khách sạn Nhà nước cũng chỉ chiếm tỷ lệ chưa đến 50%….
Nhà nước cần kiểm tra thường xuyên, nghiêm túc chất lượng của các khách sạn đã đăng ký kinh doanh theo các tiêu thức đã xác định, buộc các doanh nghiệp luôn luôn giữ vũng chất lượng, tránh được tình trạng giảm giá để cạnh tranh; kiểm tra cả các hãng lữ hành (đặc biệt là lữ hành quốc tế), nhằm tránh tình trạng đua nhau hạ giá, giảm chất lượng chương trình; Nhà nước có thể tạo điều kiện để các khách sạn có thể giảm chi phí bằng cách giảm giá cước bưu điện, thuế, giá điện….Có biện pháp xử lý thích đáng với doanh nghiệp trốn lậu thuế.
-Ông Võ Phi Hùng, Sở Du lịch Thừa Thiên – Huế: “Quản lý giá sàn nhưng cần kiểm soát chặt chẽ”
“Ở Thừa Thiên – Huế, đã tiến hành họp các chủ doanh nghiệp khách sạn thuộc mọi thành phần kinh tế, tất cả đều nhất trí cần quy định giá sàn. Nhưng phải có biện pháp quản lý chặt chẽ: Thành lập đoàn kiểm tra liên ngành gồm Du lịch, Tài chính, Thuế….đến từng khách sạn để đánh giá chất lượng bằng cách cho điểm. Từ đó làm cơ sở đưa ra giá sàn. Xếp từng nhóm khách sạn theo đặc thù cụ thể định giá theo nhóm.
Xây dựng mạng tin học với các doanh nghiệp khách sạn với các cơ quan quản lý như: công an, thuế….nhằm kiểm soát chặt chẽ hơn. Bên cạnh đó thường xuyên tổ chức kiểm tra đột xuất nhằm ngăn chặn tình trạng gian dối, trốn lậu.
Thành lập Hiệp hội khách sạn, trong đó các thành viên đóng góp một khoản tiền nhất định làm quỹ khen thưởng, quỹ này được bổ sung bằng tiền phạt những doanh nghiệp vi phạm….”
-Ông Đỗ Văn Hoàng – Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn: “Hiệp hội khách sạn là cần thiết”
“Trước mắt để giảm tính cạnh tranh về giá trị, cần thành lập các Hiệp hội du lịch khách sạn….Sự hoạt động của Hiệp hội nhằm đoàn kết, bảo vệ quyền lợi của các thành viên, bảo vệ giá trị của các sản phẩm, đảm báo giá phản ánh đúng giá trị và đảm bảo giá trị sử dụng cho khách hàng, tránh lạm dụng công cụ giá để cạnh tranh, không được chào bán giá phòng và giá dịch vụ dưới mức chi phí thực tế của phòng và dịch vụ đó. Các Hiệp hội mạnh sẽ là nhịp cầu nối liền giữa các cơ quan quản lý Nhà nước và doanh nghiệp, thông tin nhanh nhất những chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước cũng như phản ánh được tâm tư, nguyện vọng của các doanh nghiệp và tình hình thực tế, để các cơ quan quản lý Nhà nước có thể điều chỉnh các chính sách kịp thời, phù hợp”.
P.V – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

1001 tình huống trong đời hướng dẫn viên “Đi tìm chỗ ngủ”

Tôi nhớ lần đi tour Tây Bắc. Đoàn chúng tôi gồm có 5 người khách, tôi làm hướng dẫn, cùng một lái xe tuổi cùng với tôi.
Khách có 5 người thì chỉ có một phụ nữ. Bà ta là Maria, vợ ông Gecmano, trưởng đoàn, người Italia. Bạn của Gecmano là Giuseppe, tính tình hiền lành, vì bệnh đau dạ dày hành hạ nên người xanh xao gầy còm, trong túi lúc nào cũng có ít bánh mì, phó mát hay bánh quy. Một người khách nữa tên là Tonio, người lùn, để râu quai nón, trông giống diễn viên phim hài ta thường gặp. Nhân vật thứ năm trong đoàn tên là Franco, cao to, đẹp trai, trông ra dáng trí thức. Quả là phong cảnh miền núi hấp dẫn quyến rũ khách. Mỗi khi gặp cảnh đẹp hoặc lạ mắt, ông Gemano lại bảo lái xe cho dừng lại. Thế là cả đoàn xuống xe, lích kích máy ảnh, máy camera vừa quay, vừa chụp. Thăm xong Mai Châu, đoàn tiếp tục lên đường. Nói chuyện với nhau mãi, cả đoàn cất tiếng hát làm xao động cả một vùng rừng núi.
Rời Mộc Châu rồi Yên Châu, đến sẩm tối chúng tôi cũng tới thị xã Sơn La. Nằm giữa lòng chảo vùng Tây Bắc của Tổ quốc, Sơn La quả cũng dễ làm say đắm lòng người. Giống như các vị khách, tôi cũng lên Sơn La lần đầu. Tìm đến khách sạn, tôi bảo anh bạn lái xe cho xe đỗ lại, tôi vào chỗ lễ tân khách sạn. Trong sân la liệt xe các loại. Chà, không ngờ đây mà cũng đông khách như thế sao. Tôi nói với lễ tân tên đoàn và đề nghị bố trí phòng cho bạn. Cô gái phụ trách lễ tân trông xinh xắn như bông hoa núi cười rất duyên bảo tôi: “Xin lỗi anh, hôm nay khách sạn của chúng em hết phòng rồi, anh thông cảm tìm nơi khác. Lần sau nhất định chúng em sẽ dành phòng cho các anh.” Tôi ớ người ra, bảo là Công ty ở Hà Nội đã Fax báo đặt phòng rồi cơ mà. Cô gái vẫn giọng dễ thương nói như hát: “Vâng. Chúng em có nhận được Fax, nhưng hôm qua khách sạn có Fax xuống Hà Nội vì trường hợp đột xuất đặc biệt, nên các khách sạn Sơn La trong hai đêm sẽ không đón khách du lịch”. Tôi không còn hiểu thế nào nữa. Bây giờ biết trả lời cho khách như thế nào đây. Lúc ấy, Giám đốc khách sạn cũng ra chỗ lễ tân. Cô gái nói nhỏ với Giám đốc, và anh ta, với tác phong lịch sự, ra bắt tay tôi, hỏi thăm tình hình đoàn và bảo: “Rất tiếc, hiện nay có cuộc họp của các bí thư tỉnh ủy các tỉnh phía Bắc nên tất cả các khách sạn ở thị xã Sơn La theo yêu cầu của Tỉnh ủy phải phục vụ cho khách Hội nghị. Lần khác, hy vọng thế nào chúng tôi cũng được hân hạnh phục vụ các anh”. Lần khác là bao giờ, còn đêm nay, chúng tôi sẽ cho khách ngủ ở đâu ? Tôi hỏi thăm các khách sạn ở thị xã, thì nghe trả lời những cái kha khá đều hết chỗ. Thấy tôi không trở ra, ông Gecmano đi vào tìm tôi. Tôi phải kể rõ sự tình, do có hội nghị đột xuất, nên các phòng phục vụ khách khách Hội nghị. “Vậy chúng tôi sẽ nghỉ đêm nay ở đâu ?”. Tôi thấy nỗi băn khoăn thể hiện rõ trên nét mặt ông. Nhưng biết làm thế nào, lần đầu tiên dẫn một đoàn khách sang trọng phải đi tìm chỗ ngủ. Tôi bảo Gemano cứ lại xe nghỉ ngơi, tôi sẽ lo liệu. Tôi hỏi mấy nhân viên khách sạn có cách nào giải quyết được mấy phòng ngủ không ? Mấy người cũng thật thà, nói rằng ở thị xã khách sạn đếm trên đầu ngón tay, chỉ một hội nghị với dăm bảy chục khách là kín chỗ. Đang lúc băn khoăn, thì có một chàng trai nhân viên khách sạn tới chỗ tôi bảo: “Nhà em có một nhà mới xây, vài năm trước cũng kinh doanh khách sạn mini. Nhưng vì vắng khách nên định xoay sang kinh doanh mặt hàng xe đạp, xe máy. Hiện tại còn bỏ trống. Nhưng bây giờ bề bộn lắm. Phải bỏ sức ra dọn dẹp mới có chỗ ngủ. Còn giá cả không thành vấn đề. Anh cho bao nhiêu cũng được”. Nghe bùi bùi tai, tôi trở ra chỗ khách bảo anh lái xe cho khách vào quầy bar có gì ăn tạm lót dạ, tôi đi theo chàng trai lo chỗ ngủ cho cả đoàn. Chàng trai chở xe máy đưa tôi về nhà mình. Quả là một căn nhà rộng rãi, xây ba tầng. Nhưng trông bề bộn, lỉnh kỉnh nào vôi vữa, gạch ngói, xi măng. Bây giờ biết còn đi đâu ? Thế là tôi bảo chàng trai gọi thêm người dọn các phòng bố trí cho khách ngủ đêm nay. Khoảng một tiếng rưỡi mới tạm ổn. Tôi bảo chàng trai ra nói với Giám đốc khách sạn ban nãy mượn khăn trải giường, gối đệm cho khách. Và tôi cũng quay ra đón khách. Tôi bố trí cho vợ chồng Gecmano ngủ ở tầng hai, phòng bên cạnh cho Tonio và Franco. Còn ông Giuseppe khốn khổ thì phải ra phòng khách ngủ cùng tôi trên ghế sa lông. Màn cũng khó mắc. Tôi trông Giuseppe thân hình gầy còm, người quấn nêm trắng quanh mình vừa tức cười, vừa thương hại. Rồi đêm cũng sẽ qua đi, bình minh ngày mới lại đến. Sáng hôm sau gặp nhau ai cũng hỏi: – Ngủ có ngon không ? Và câu trả lời: – Rất ngon, không còn biết trời đất gì nữa. Cơm sáng xong, cả đoàn lại vui vẻ lên đường, tiếp tục cuộc hành trình đi Điện Biên Phủ.
Nguyễn Thắng – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999